Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:182/2024/HSST

Ngày: 02-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Dungbà Nguyễn Thị Quy .

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại Phòng xét xử A - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 219/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phan Văn L, sinh ngày 14/8/2004 tại Đồng Nai (có mặt)

    Nơi cư trú:số nhà A, tổ C, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn P, sinh năm 1978 và bà Phạm Thị Ngọc N, sinh năm 1986; anh chị em ruột 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Được khởi tố tại ngoại và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 25/01/2022 đến nay.

  2. Phan Văn T, sinh ngày 18/10/2005 tại Đồng Nai (có mặt)

    Nơi cư trú:số nhà A, tổ C, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn P, sinh năm 1978 và bà Phạm Thị Ngọc N, sinh năm 1986; anh chị em ruột 04 người, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình, vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 13/6/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ khởi tố về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, hiện hồ sơ đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử của Tòa án.

    Bị bắt ngày 07/6/2024 và đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ cho đến nay.

  3. Thạch Bảo K, sinh ngày 16/09/2004 tại Đồng Nai (có mặt)

    Nơi cư trú: số nhà A, tổ D, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Khơ me; Giới tính: Nam; Tôn giáo:Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Cha (không rõ), mẹ Nguyễn Hồng M, sinh năm 1983 (đã chết), người nuôi dưỡng ông Thạch S, sinh năm 1968, bà Giang Thị T1, sinh năm 1958 (ông bà ngoại); anh chị em ruột 01 người, bị cáo là con duy nhất trong gia đình, vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại Bản án số 60/2023/HS-ST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xử phạt Thạch Bảo K 07 năm tù, về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2021.

    - Ngày 05/10/2023, bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” trong vụ án khác, hiện hồ sơ đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử của Tòa án.

    Bị bắt tạm giam ngày 31/12/2021 và đang thi hành án tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện Đ.

  4. Hoàng H, sinh ngày 06/5/2004, tại Quảng Trị. (vắng mặt)

    Nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng S1, sinh năm 1975 và bà Lê Bùi Mộng P1, sinh năm 1977; anh chị em ruột 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình, vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Được khởi tố tại ngoại và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 25/01/2022 đến nay. Do bị cáo bỏ trốn trong giai đoạn xét xử nên cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy nã số 04/QĐTN-CSĐT ngày 28/8/2023.

  5. Nguyễn Đình N1, sinh ngày 18/5/2004 tại Đồng Nai (có mặt)

    Nơi cư trú:số nhà A, tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Toàn T2, sinh năm 1974; anh chị em ruột 02 người, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình, vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Được khởi tố tại ngoại và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 25/01/2022 đến nay.

  6. Hồ Viết N2, sinh ngày 06/8/2004 tại Đồng Nai (có mặt)

    Nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Viết V, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984; anh chị em ruột 01 người, bị cáo là con duy nhất trong gia đình, vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Được khởi tố tại ngoại và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 25/01/2022 đến nay.

  7. Sẩm Anh H2 (tên gọi khác: Huy Kim cô), sinh ngày 27/5/2004 tại Đồng Nai (có mặt)

    Nơi cư trú: số nhà E, phố G, ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo:không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sẩm A C1, sinh năm 1970 và bà Gịp Kỳ N3, sinh năm 1980; anh chị em ruột 02 người, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình, vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Được khởi tố tại ngoại và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 25/01/2022 đến nay.

1/ Người đại diện hợp pháp cho bị cáo L, bị cáo T: Ông Phan Văn P, sinh năm 1978 (vắng mặt), bà Phạm Thị Ngọc N, sinh năm 1986 (có mặt)

Địa chỉ: số nhà A, tổ C, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

2/ Người đại diện hợp pháp cho bị cáo K: Thạch Sang (vắng mặt) và Giang Thị T1, sinh năm 1958 (có mặt)

Địa chỉ: số A, tổ D, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

3/ Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H: Ông Hoàng S1, sinh năm 1974 (vắng mặt), bà Lê Bùi Mộng P1, sinh năm 1977(có mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

4/ Người đại diện hợp pháp cho bị cáo N1: Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1972 (vắng mặt), bà Nguyễn Thị Toàn T2, sinh năm 1974 (có mặt).

Địa chỉ: số A, tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

5/ Người đại diện hợp pháp cho bị cáo N2: Ông Hồ Viết V, sinh năm 1982, bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984. có mặt.

Địa chỉ: ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

6/ Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Gia H3: Ông Nguyễn Quý G, sinh năm 1980, bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp G, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

7/ Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Anh H3: Ông Sẩm A C1, sinh năm 1970, bà Gịp Kỳ N3, sinh năm 1980 (có mặt)

Địa chỉ:số nhà E, phố G, ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

8/ Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn T, Thạch Bảo K, Hồ Viết N2: Bà Nguyễn Thị L1, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (có mặt)

9/ Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình N1, Phan Văn L: Bà Vũ Thùy D, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (có mặt)

10/ Người bào chữa cho bị cáo Sẩm Anh H2, Hoàng H, Nguyễn Quý Gia H3: Bà Lê M1, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (có mặt)

- Bị hại: Anh Đinh Xuân H4, sinh ngày 17/3/2003 (có mặt)

Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đinh Nam H5, sinh năm 1976 (có mặt)

    Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã T, huyện Đ tỉnh Đồng Nai.

  2. Bà Phạm Thị Ngọc N, sinh năm 1985 (có mặt)

    Địa chỉ: số nhà A, tổ C, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

  3. Bà Trần Thị Diệu H6, sinh năm 1983(vắng mặt)

    Địa chỉ: số D, tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

  4. Bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1978 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp G, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

  5. Bà Gịp Kỳ N3, sinh năm 1980 (có mặt)

    Địa chỉ:số nhà E, phố G, ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Người làm chứng: Anh Hoàng Hải X, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Chỗ ở: khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn L, Thạch Bảo K, Hoàng H, Nguyễn Đình N1, Hồ Viết N2, Nguyễn Quý Gia H3, Sẩm Anh H2 và Phan Văn T (T là em trai L) là bạn bè quen biết nhau.

Do có mâu thuẫn xích mích giữa Phan Văn L với anh Đinh Xuân H4, sinh ngày 17/3/2003, trú tại ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Vào khoảng 20 giờ ngày 20/10/2021, L, H, N1, N2, Gia H3 và Anh H3 đang ngồi uống nước tại quán “Napoly” thuộc khu phố H, thị trấn Đ thì N1 nhận được điện thoại của K nói là N4 “mát” (không rõ nhân thân, lai lịch) đang ở quán “No 1 H" thuộc khu phố H, thị trấn Đ, do N4 “mát” chơi thân với Đinh Xuân H4 nên N1 nghĩ H4 đang ở quán “N H” nên N1 đã nói với L, thì L rủ cả nhóm và rủ thêm T (em trai L) lên quán “No 1 H” tìm đánh H4 để trả thù, tất cả đều đồng ý.

Khi đến quán “N H” thì không gặp anh H4, lúc này gặp K cùng 4-5 thanh niên (không rõ lai lịch) đang ở đây. Nhóm của K nói anh H4 đang ở quán “Cơm lam - cá lóc nướng” thuộc khu phố H, thị trấn Đ, L rủ cả nhóm tìm anh H4 để đánh, tất cả đều đồng ý và đi đến quán “Cơm lam – cá lóc nướng” để đánh anh H4.

Khi đến quán “Cơm lam - cá lóc nướng” thuộc khu phố H, thị trấn Đ, K đi vào trước la hét om sòm, K dùng tay chỉ vào quán rồi đi ra. Thấy anh H4 đang ngồi cùng bạn trong quán, N1 dùng chạng ná bắn anh H4, H dùng lon nước ngọt ném vào anh H4 và H cầm cây hốt rác bằng kim loại đánh anh H4, rồi H chuyển cây hốt rác cho N1 tiếp tục đánh anh H4, T dùng tay chân đánh anh H4; còn L dùng 01 con dao cán nhựa dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 15cm, sắc một bên, tù một bên, nhọn đầu (do N2 đưa cho L trước đó) đâm anh H4 02 nhát trúng vào lưng anh H4 gây thương tích. Sau khi L đâm xong thì T tiếp tục lao vào dùng chân đạp vào người anh H4; còn K, Gia H3, Anh H2, N2 đứng bên ngoài tạo động lực cho nhóm thanh niên trên gây thương tích cho anh H4. Sau khi anh H4 bị thương cả nhóm lên xe đi về, L vứt con dao quanh khu vực gần chợ C3 thuộc thị trấn Đ rồi đi về nhà. Anh H4 được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Thạch Bảo K, Phan Văn L, Hoàng H, Nguyễn Đình N1, Hồ Viết N2, Nguyễn Quý Gia H3, Sẩm Anh H2 và Phan Văn T đã khai nhận mọi hành vi phạm tội của bản thân.

* Hậu quả:

1) Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0924/TgT/2021 ngày 21/12/2021, của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận: Thương tích của anh Đinh Xuân H4 như sau:

* Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Vết thương thấu ngực gây tràn máu màng phổi trái, tổn thương nhu mô phổi trái hiện để lại xơ phổi trái hạ phân thùy S6 phổi trái.
  • Sẹo lưng trái kích thước 2,2x0,3cm.
  • Sẹo lưng phải kích thước 1,5x0,7cm.
  • Sẹo mổ dẫn lưu ngực bên bên trái hình chân rết kích thước 2,2x1,5cm
  • * Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 30%.

Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.

Đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ xác minh tại Bệnh viện nơi bệnh nhân nằm điều trị có tổn thương gãy cung sau xương sườn 6 trái, có dị vật kim khí nhỏ hay không? Nếu có, đề nghị trưng cầu giám định bổ sung (bút lục số 134, 135).

Ngày 06/4/2022 Bệnh viện Đ1 đã trả lời công văn đề nghị của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ như sau: Trên phim XQ ngực thẳng chụp ngày 21/10/2021 của bệnh nhân Đinh Xuân H4 có tổn thương phạm xương cung sau xương sườn 6 (T) và 02 mảnh cản quang kim khí bên trong (bút lục số 138).

2) Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0457/TgT/2022 ngày 06/5/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: Thương tích của anh Đinh Xuân H4 sau khi giám định bổ sung như sau:

* Dấu hiệu chính qua giám định:

Phần đã được giám định: tại bản kết luận số 0924/TgT/2021 ngày 21/12/2021 của Trung tâm P với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 29,641% làm trong thành 30%

- Phần giám định bổ sung:

  • Tổn thương gãy xương sườn số 6 bên trái can tốt. Tỷ lệ: 02%
  • Dị vật kim khí trong mô mềm vùng lưng. Tỷ lệ: 02%
  • * Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định bổ sung là 32% (bút lục số 140, 141, 142).

3) Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 0925/GĐHS/2021 ngày 24/5/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: Cơ chế hình thành vết thương, hướng và lực tác động đối với thương tích của anh Đinh Xuân H4 như sau:

  • Vết thương lưng trái để lại sẹo kích thước 2,2x0,3cm, gãy cung sau xương sườn 6 trái, có dị vật kim khí nhỏ bên trong, tổn thương nhu mô phổi trái, tràn dịch tràn khí màng phổi trái. Tổn thương do vật sắc nhọn tác động trực tiếp vào vùng lưng trái tương đương vị trí vùng cung sườn 6 với lực tương đối mạnh theo hướng từ sau ra trước, từ ngoài vào trong và chếch từ trái qua phải gây nên.
  • Vết thương lưng phải để lại sẹo kích thước 1,5x0,7cm. Tổn thương do vật sắc nhọn tác động trực tiếp vào vùng lưng phải với lực vừa đủ theo hướng từ sau ra trước, từ ngoài vào trong và chếch từ phải qua trái gây nên (bút lục số 143, 144).

4) Căn cứ Bản kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0468/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 07/6/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận:

- Các kết quả chính: Nạn nhân Đinh Xuân H4 vào viện lúc 09 giờ 01 phút ngày 21/10/2021. Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt. Mạch 84 lần/phút. Nhiệt độ 37 độ C, Huyết áp 100/60mmHg, Nhịp thở 20 /lần/ phút. Vết thương lưng trái 02cm, bờ sắc gọn. Vết thương lưng phải 01cm, bờ sắc gọn. X-Q: Theo dõi dập + xẹp phổi trái. Tràn khí màng phổi trái. Tràn khí dưới da thành ngực trái. Siêu âm: Tràn dịch màng phổi bên trái lượng vừa, có hình ảnh tràn khí màng phổi trái. Được phẫu thuật dẫn lưu màng phổi trái lúc 11giờ 00 phút ngày 21/10/2021.

- Kết luận: Căn cứ thời gian xảy ra thời gian nhập viện, các tổn thương như trên, triệu chứng được ghi nhận khi vào viện thuộc loại cấp cứu có trì hoãn vì vậy ngay lập tức sẽ không nguy hại đến tính mạng của nạn nhân. Như vậy nếu bị hại không được cấp cứu phẫu thuật kịp thời cũng sẽ không ảnh hưởng đến tính mạng của bị hại.

Vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu nâu vàng đồng, biển số 60B4-806.58 do bị cáo Phan Văn T giao nộp, 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng đỏ đen, biển số 60B4-842.09 do bị cáo Nguyễn Quý Gia H3 giao nộp, 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu trắng đỏ, biển số 60B4-439.02 do bị cáo Sẩm Anh H2 giao nộp, 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, biển số 60B4-870.57 do bị cáo Hồ Viết N2 giao nộp.

Theo cáo trạng số 341/CT-VKSÐQ ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Phan Văn L cùng đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm c, khoản 3, Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với L, T, H, K (riêng K áp dụng thêm Điều 55, 56); áp dụng thêm Điều 65 đối với N1, H2 và N2. Xử phạt bị cáo L mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 07 năm tù về tội giết người tại bản án số 60/2023/HSST ngày 08/6/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai, tổng cộng K phải chấp hành hình phạt chung là từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù; H từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù; Nhu từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù cho hưởng án treo; Sẩm Anh H2 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 03 năm; Ngàn từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo,thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Vào khoảng 20 giờ ngày 20/10/2021, tại quán “Cơm lam-cá lóc nướng” thuộc khu phố H, thị trấn Đ. Do mâu thuẫn cá nhân, nên Phan Văn L, Thạch Bảo K, Hoàng H, Nguyễn Đình N1, Hồ Viết N2, Nguyễn Quý Gia H3, Sẩm A H3 và Phan Văn T đã có hành vi dùng 01 con dao cán nhựa, lưỡi dao bằng kim loại (là hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho Đinh Xuân H4 với tỷ lệ thương tật là 32%. Hành vi của L, K, H, N1, N2, Gia H3, Anh H2 và T đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là đúng người đúng tội.

Ngày 30/11/2024 Toà án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 57/2023/HSST-QĐ để điều tra bổ sung làm rõ hành vi của Phan Văn L cùng đồng phạm để khởi tố, điều tra, truy tố về tội “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và có tính chất côn đồ, quy định tại Điều 15; điểm n, khoản 1, Điều 123 Bộ luật hình sự. Tại bản kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số:468/KLGĐCC-TTPY ĐN ngày 07/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: “ Căn cứ thời gian xảy ra thời gian nhập viện, các tổn thương như trên triệu chứng được ghi nhận khi vào viện thuộc loại cấp cứu có trì hoãn, vì vậy ngay lập tức sẽ không nguy hại đến tính mạng của nạn nhân”. Như vậy nếu bị hại không được cấp cứu phẫu thuật kịp thời cũng sẽ không ảnh hưởng đến tính mạng của bị hại. Vì vậy Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Văn L cùng đồng phạm về tội cố ý gây thương tích là đúng quy định pháp luật.

[2] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo L, T, Anh H2, N1 và N2 đã bồi thường khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Bị cáo L, H, N1, N2, Anh H2 là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, khi phạm tội đều là người chưa thành niên. Ngày 27/10/2023 bị hại đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Căn cứ quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà các bị cáo đã có thái độ hung hăng, coi thường pháp luật, dùng hung khí nguy hiểm là con dao gây tổn hại cho sức khỏe của bị hại, lỗi cố ý thuộc về các bị cáo quy định tại điểm a, khoản 1 điều này. Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Phan Văn L là người khởi xướng cùng với bị cáo Phan Văn T, Hoàng H, Nguyễn Đình N1 là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; các bị cáoThạch B, Hồ Viết N2, Nguyễn Quý Gia H3, Sẩm Anh H2 đồng phạm với vai trò “Người giúp sức”. Để đánh giá vai trò của từng bị cáo nhằm cá thể hoá hình phạt như sau:

L là người khởi xướng rủ rê các bị cáo, đồng thời trực tiếp cầm dao đâm vào vùng lưng của bị hại gây thương tích nên mức án của L phải là cao nhất, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội.

T là người có nhân thân xấu, trong thời gian thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng đã thực hiện hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi và bị bắt tạm giam, hiện cơ quan tiến hành tố tụng đã hoàn tất thủ tục truy tố và chuẩn bị đưa ra xét xử. Bên cạnh đó T cũng dùng tay chân đánh bị hại, sau khi bị hại bị L đâm bị thương thì T vẫn tiếp tục lao vào dùng chân đá vào người bị hại nên mức án của T thấp hơn L, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội.

K là người có nhân thân xấu, đã bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người” bị bắt tạm giam ngày 31/12/2021 hiện đang chấp hành hình phạt. Bên cạnh đó ngày 05/10/2023 bị cáo lại đang bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 19/11/2021 theo quyết định số 160/QĐ-ĐCSHS, hồ sơ đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mặc dù bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức bằng cách la hét, cổ vũ cho nhóm đánh nhau nhưng do bị cáo đang chấp hành hình phạt của bản án khác nên tổng hợp hình phạt với bản án này để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là phù hợp.

H cũng tham gia tích cực đánh bị hại, trong thời gian có lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú thì bị cáo đã không chấp hành pháp luật, đi đâu không khai báo. Toà án đã tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị cáo đã bỏ trốn nên ngày 12/6/2023 Hội đồng xét xử đã hoãn phiên toà, đồng thời Toà án đã ban hành quyết định bắt, tạm giam số 203/2023/HSST-QĐBTG ngày 12/6/2023. Cơ quan cảnh sát điều tra ban hành quyết định truy nã số 04/QĐTN-CSĐT ngày 28/8/2023, nhưng không có kết quả, Công văn số 282/CV-CSĐT ngày 11/7/2023 Công an đã cung cấp thông tin trả lời kết quả bị cáo bỏ trốn và việc truy nã không có kết quả. Việc vắng mặt của bị cáo H tại phiên toà hôm nay không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo, mức án của H thấp hơn L nhưng cao hơn các bị cáo còn lại, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.

Đối với 03 bị cáo còn lại gồm Nguyễn Đình N1, Hồ Viết N2, Sẩm A H2 là đồng phạm giúp sức cho L. N1 dùng chạng ná bắn bị hại, dùng cây hốt rác H chuyển cho để đánh bị hại nên mức án của N1 thấp hơn L, T, K và H nhưng cao hơn H2 và N2, cách ly N1 ra khỏi đời sống xã hội. Riêng H2 và N2 đứng ngoài cổ vũ không tham gia trực tiếp đánh bị hại nên mức án bằng nhau. Không cần cách ly H2, N2 ra khỏi đời sống xã hội, do 02 bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Vì vậy cho 02 bị cáo hưởng mức án treo cũng đủ răn đe cải tạo giáo dục.

Do các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước, quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác:

- Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đinh Xuân H4 yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khoẻ bao gồm: Chi phí điều trị tiền thuốc men, tiền ăn, tiền công lao động, giám định pháp y và tổn thất tinh thần, tổng cộng là: 298.610.000 đồng. Ngày 27/10/2023, các bị cáo và đại diện gia dình của các bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho anh H4 với tổng số tiền là 200.000.000 đồng. Anh H4 đã nhận đủ số tiền trên, tại phiên toà hôm nay không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét.

- Các vấn đề khác:

Đối với bị can Nguyễn Quý Gia H3, sinh ngày 01/4/2004, trú tại khu A, ấp G, xã G, huyện Đ, ngày 25/01/2022 Cơ quan điều tra khởi tố cho tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơ. cú trú”. Trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, ngày 31/5/2023 bị can H3 bị tai nạn giao thông và chết tại Trung tâm Y tế thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Ngày 11/120/2023 Tòa án nhân dân huyện Định Quán đã ra Quyết định đình chỉ xét xử đối với bị cáo số 356/2023/HSST-QĐ về tội “Cố ý gây thương tích”.

Đối với Hồ Thế B, sinh năm 2005, thực tế không có cư trú trên địa bàn thị trấn Đ, không rõ nhân thân, lai lịch, đi đâu làm gì không rõ, nên tách ra khi nào làm việc xử lý sau.

Vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu nâu vàng đồng, biển số 60B4-806.58 do bị can Phan Văn T giao nộp. Quá trình điều tra xác định đây là xe của mẹ ruột T là Phạm Thị Ngọc N, chị N để xe ở nhà và T tự ý điều khiển xe đi, chị N không biết việc T sử dụng xe mô tô trên để đi gây án. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng đỏ đen, biển số 60B4-842.09 do bị can Nguyễn Quý Gia H3 giao nộp. Quá trình điều tra xác định đây là xe của mẹ ruột H3 là Nguyễn Thị C2, chị C2 để xe ở nhà và H3 tự ý điều khiển xe đi, chị C2 không biết việc H3 sử dụng xe mô tô trên để đi gây án. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu trắng đỏ, biển số 60B4-439.02 do bị can Sẩm Anh H2 giao nộp. Quá trình điều tra xác định đây là xe của mẹ ruột H2 là Gịp Kỳ N3, chị N3 để xe ở nhà và H2 tự ý điều khiển xe đi, chị N3 không biết việc H2 sử dụng xe mô tô trên để đi gây án. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, biển số 60B4-870.57 do bị can Hồ Viết N2 giao nộp. Quá trình điều tra xác định đây là xe của mẹ ruột N2 là Trần Thị Diệu H6, chị H6 để xe ở nhà và N2 tự ý điều khiển xe đi, chị H6 không biết việc N2 sử dụng xe mô tô trên để đi gây án. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với vật chứng vụ án là 01 con dao cán nhựa dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 15cm, sắc 1 bên, tù 1 bên, nhọn đầu của bị can Phan Văn L dùng để đâm Đinh Xuân H4, sau khi thực hiện hành vi phạm tội xong trên đường về nhà L vứt con dao dùng để đâm H4 quanh khu vực gần chợ C3 thuộc thị trấn Đ mà L không nhớ rõ cụ thể là chỗ nào. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng đến nay chưa thu được.

Đối với vật chứng vụ án là 01 cây hốt rác bằng kim loại, 01 lon nước ngọt và 01 cây chạng ná thun của các bị can dùng để gây thương tích cho Đinh Xuân H4, sau khi thực hiện hành vi phạm tội xong các bị can đã vứt lại hiện trường vụ án. Qua làm việc với chủ quán “Cơm lam-cá lóc nướng” xác định do các vật chứng trên đã hư hỏng nên chủ quán đã bỏ lên xe thu gom rác. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng đến nay chưa thu được.

[6] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Xét quan điểm của Viện kiểm sát đánh giá về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo L, T, K, H, H2 và N2 phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Riêng đề nghị mức hình phạt treo đối với N1 là không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

[9] Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn T, Thạch Bảo K, Hồ Viết N2 có bà Nguyễn Thị L1 trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Bị cáo T, K và N2 đều có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, gia đình bị cáo N2 có công với cách mạng, bị cáo K mồ côi cha mẹ sống với ông bà ngoại từ nhỏ, là người dân tộc khơ me, có trình độ học vấn thấp nên sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề xuất, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo 01 mức án nhẹ hơn so với mức án mà Viện kiểm sát đã đề nghị.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình N1, Phan Văn L có bà Vũ Thùy D trình bày:

Thống nhất về tội danh, cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị hại cũng có 01 phần lỗi, đồng thời đã làm đơn bãi nại tự nguyện sau khi nhận tiền bồi thường, nhưng tại phiên toà hôm nay thay đổi không đồng ý xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L, N1. Bị cáo N1 đã đáp ứng các điều kiện được hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.

Người bào chữa cho bị cáo Sẩm Anh H2, Hoàng H có bà Lê M1 trình bày:

Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh cố ý gây thương tích, quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 134 Bộ luật hình sự, đồng ý với mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị.

Xét quan điểm của những người bào chữa bà L1, bà D và bà M1 về tội danh, đánh giá tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Tuy nhiên đối với bà D đề nghị cho bị cáo N1 được hưởng án treo là không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 2, Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Áp dụng: điểm c, khoản 3, Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58; các Điều 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Riêng H, K không áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 51 BLHS; Khang áp dụng thêm Điều 55, 56 Bộ luật hình sự; N1 và N2 áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự; Riêng L, N1 áp dụng thêm Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung 01 số điều của Nghị quyết số 02/2018.

1. Tuyên bố các bị cáo Phan Văn L, Phan Văn T, Thạch Bảo K, Hoàng H, Nguyễn Đình N1, Hồ Viết N2 và Sẩm Anh H2 phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

1.1 Xử phạt bị cáo Phan Văn L 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án ngày 02/12/2024.

Bắt, tạm giam bị cáo Phan Văn L tại phiên tòa ngay sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.

1.2 Xử phạt bị cáo Thạch Bảo K 02 (hai) năm tù về tội cố ý gây thương tích. Tổng hợp với hình phạt 07 (bảy) năm tù về tội giết người tại bản án số 60/2023/HSST ngày 08/06/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Tổng cộng bị cáo K phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/12/2021.

1.3 Xử phạt bị cáo Phan Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2024.

1.4 Xử phạt bị cáo Hoàng H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ.

1.5 Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình N1 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án ngày 02/12/2024.

Bắt, tạm giam bị cáo Nguyễn Đình N1 tại phiên tòa ngay sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.

1.6 Xử phạt bị cáo Sẩm Anh H2 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/12/2024).

1.7 Xử phạt bị cáo Hồ Viết N2 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/12/2024).

Giao bị cáo Hồ Viết N2 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Sẩm Anh H2 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo L, K, T, H, N1, N2, H2, đại diện hợp pháp của bị cáo gồm bà N, bà T1, bà P1, bà T2, ông V, bà H6, ông C1, bà N3, người bào chữa cho các bị cáo bà L1, bà D, bà M1 ;bị hại ông H4, người liên quan ông H5, bà N, bà H6, bà N3 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông P, ông S2, ông S1, ông C, ông G, bà C2, bà Diệu H6 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán;
  • - CQCSĐT Công an huyện Định Quán;
  • - CQ THA hình sự Công an huyện Định Quán;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; Bị hại; Đại diện hp bị hại; NLQ;NBC.
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HSST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 182/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Van L + đp - co y gay thuong tich
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger