Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2024/HS-PT

Ngày 29-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu
  • Các Thẩm phán: Ông Bùi Duy Thạch
  • Bà Bùi Thị Thu Hằng
  • - Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 162/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXPT-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 với bị cáo Nguyễn Văn D, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2024/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn D, sinh ngày 29 tháng 3 năm 1993 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Đặng Thị N; có vợ là Bùi Thị S và 03 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 51/2014/HSST ngày 04/9/2014, Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); bị bắt tạm giam từ ngày 16/5/2024 đến ngày 19/6/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn N1; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (đã chết ngày 24/02/2024).

Đại diện hợp pháp của bị hại:

  • - Cụ Nguyễn Thị R; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (là mẹ đẻ của bị hại); vắng mặt.
  • - Bà Lương Thị H; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (là vợ của bị hại); vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Văn Q; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (là con đẻ của bị hại); vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị T; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (là con đẻ của bị hại); vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Q, chị T: Bà Lương Thị H; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Hợp tác xã vận tải ô tô thành phố N; địa chỉ: Bến xe khách N, đường L, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
  • Người đại diện hợp pháp của Hợp tác xã vận tải ô tô thành phố N: Ông Trần Quang N2 - Giám đốc Hợp tác xã; là người đại diện theo pháp luật; vắng mặt.
  • + Ông Ngô Văn K; nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24 tháng 02 năm 2024, Nguyễn Văn D có giấy phép lái xe điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 28B-008.89, nhãn hiệu SAMCO, 29 chỗ ngồi chở khách đi từ bến xe huyện N, tỉnh Ninh Bình đi bến xe V, thành phố Hải Phòng. Khi D điều khiển xe đi đến điểm mở Km56+600 Quốc lộ A, thuộc địa phận thôn K, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng, trong điều kiện trời mưa, đường trơn trượt, do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức (điểm mở sang đường, có gờ giảm tốc độ trên mặt đường) nên đã đâm vào xe mô tô mang biển kiểm soát 17B5-441.97 do ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình điều khiển đi qua đường theo hướng từ bên phải sang bên trái theo hướng đi của xe ô tô. Hậu quả ông N1 chết tại chỗ.

Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện và khám nghiệm tử thi. Kết quả như sau:

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại điểm mở Km56+600 Quốc lộ A, thôn K, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng (thuộc chiều đường T - Hải Phòng). Hướng Bắc là hướng đi thành phố Hải Phòng, hướng N3 đi Thái Bình. Khu vực xảy ra tai nạn nằm ngoài khu đông dân cư, có các biển báo hiệu giao thông đường bộ theo quy định, có gờ giảm tốc. Mép đường chuẩn là mép đường bên phải theo chiều Thái Bình - Hải Phòng. Điểm mốc là cột biển báo cấm đi ngược chiều phía Thái Bình. Tại hiện trường ghi nhận vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết theo thứ tự như sau: Vết xước kích thước 13,9 x 0,01 mét (1) màu trắng, dạng nét đứt nằm ở làn (II) giữa khu vực điểm mở, có chiều hướng Thái Bình - Hải Phòng. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 5,1 mét, tới điểm mốc là 13,5 mét, điểm cuối trùng với vị trí đầu tay lái phải của xe mô tô mang biển kiểm soát 17B5-441.97 và cách mép đường chuẩn là 3,2 mét. Vùng mảnh vỡ kích thước 13 x 7 mét (2), điểm đầu vết đến điểm đầu vết xước (1) là 2,3 mét, cách mép đường chuẩn là 05 mét, tâm cách mép đường chuẩn là 3,5 mét. Vị trí xe mô tô biển kiểm soát 17B5-441.97 (3) nằm ở làn (II) thuộc chiều đường T - Hải Phòng, đổ nghiêng sang phải, đầu xe hướng Hải Phòng, chếch vào lề trái. T1 bánh trước cách mép đường chuẩn là 04 mét, tới tâm bánh sau của xe ô tô khách biển kiểm soát 28B-008.89 là 11,5 mét, tâm bánh sau cách mép đường chuẩn là 3,5 mét. Vị trí nạn nhân (4) là nam giới có chiều dài tử thi là 1,65 mét, nằm ở lề đường phải trong tư thế ngửa, hướng vuông góc với mép đường chuẩn. Vùng đầu xuất hiện vết máu loang chảy nằm trùng với mép đường chuẩn, hai chân duỗi thẳng hướng về phía Đông. Vị trí xe ô tô khách biển kiểm soát 28B-008.89 (5) nằm ở chiều đường H - Thái Bình, xe có chiều hướng Thái Bình - Hải Phòng chếch vào lề trái. T1 bánh trước bên trái cách mép trái đường là 4,2 mét, tâm bánh sau bên trái cách mép trái đường là 5,7 mét, đuôi xe ngang vị trí điểm cuối của điểm mở.

Tại bản Kết luận giám định số 756/KL-KTHS ngày 18-3-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “Dấu vết bẹp lõm, khuyết thủng, bề mặt trượt xước mất sơn màu đỏ, bám dính tạp chất màu đen (dạng nhựa), giắt 01 thanh kim loại sáng màu (dạng lõi tay cầm lái xe mô tô) theo chiều từ trước về sau tại ốp nhựa bảo vệ đầu xe (phía trên cụm đèn pha bên trái phía trước) trên xe ô tô biển kiểm soát 28B-008.89 phù hợp với dấu vết cong gập, xô lệch, mất khuyết lõi kim loại, bề mặt trượt xước mất nhựa màu đen, bám dính tạp chất màu đỏ (dạng sơn) theo chiều từ trái sang phải tại tay lái bên trái trên xe mô tô biển kiểm soát 17B5-441.97. Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động gần như vuông góc va chạm với nhau.”

Kết quả khám nghiệm tử thi ông Nguyễn Văn N1 ghi nhận các dấu vết, tổn thương trên cơ thể như sau: Vùng đỉnh chẩm có vết rách da bờ mép nham nhở kích thước 4 x 5cm, xung quanh kết hợp sưng nề, bầm tím. Ngón 2 bàn tay trái có đám xây xước trợt da, rách da bám dính nhiều tạp chất màu đen kích thước 9x3cm. Mặt trước trong cẳng chân trái có một số vết xây xước trợt da kích thước 35 x 15cm kết hợp sưng nề, bầm tím. Khám trong: Dập vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng đỉnh chẩm. Trật khớp cổ tay trái và gãy ngón 2 bên tay trái. Gãy kín 1/3 trên xương cẳng chân trái.

Tại bản Kết luận giám định tử thi đối với ông Nguyễn Văn N1 số 724/KL-KTHS ngày 18-3-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:

  • “- Thương tích trên nạn nhân có đặc điểm hình thành phù hợp do vật tày tác động.
  • - Chất kích thích: không có.
  • - Nguyên nhân chết: sốc đa chấn thương.”

Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận:

  • “- Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát: 28B-008.89 tại thời điểm xảy ra tai nạn là: 14.000.000 đồng.
  • - Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát: 17B5-441.97 tại thời điểm xảy ra tai nạn là: 2.470.000 đồng.”

Kết quả xét nghiệm đối với Nguyễn Văn D xác định âm tính với các chất ma tuý và kết quả kiểm tra nồng độ cồn là 0,00mg/L.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn D khai nhận: D là lái xe của Hợp tác xã vận tải ô tô thành phố N, địa chỉ: Bến xe khách N, đường L, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24-02-2024, D điều khiển xe khách biển kiểm soát 28B-008.89 đi từ bến xe N, tỉnh Ninh Bình về bến xe V, thành phố Hải Phòng. Khi đi đến gần khu vực điểm mở Km56+600 Quốc lộ A, thôn K, xã H, D nhìn thấy một người đàn ông (sau này biết là ông Nguyễn Văn N1) điều khiển xe mô tô đi từ đường thôn K, xã H sang điểm mở dải phân cách cứng Quốc lộ A theo hướng từ bên phải sang bên trái chiều đi của xe ô tô để qua đường. Lúc này D đang điều khiển xe tại làn đường dành cho xe cơ giới sát dải phân cách cứng với tốc độ khoảng 74km/h và khoảng cách từ xe của D đến xe của ông N1 là khoảng 20 - 25 mét. D đã bấm còi, đánh lái xe sang bên trái để tránh nhưng không kịp nên đã đâm vào bên trái xe mô tô của ông N1. Sau khi xảy ra va chạm, xe ô tô do D điều khiển đi qua điểm mở và dừng lại ở làn đường dành cho xe cơ giới theo chiều Hải Phòng đi Thái Bình còn ông N1 chết tại chỗ. Khi tai nạn thời tiết mưa phùn nhỏ, mặt đường trơn, ánh sáng ban ngày đủ nhìn. Trên mặt đường khu vực gần điểm mở có gờ giảm tốc.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn D đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng). Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đối với các thiệt hại của xe ô tô khách biển kiểm soát 28B-008.89 và xe mô tô mang biển kiểm soát 17B5-441.97, Hợp tác xã vận tải ô tô thành phố Ninh Bình và những người đại diện theo pháp luật của bị hại không có yêu cầu gì.

Về vật chứng trong vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu giữ 01 xe ô tô khách biển kiểm soát 28B-008.89, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe (đều còn trong hạn), 01 lệnh vận chuyển ngày 24-02-2024. 01 căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nguyễn Văn D; 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 17B5-441.97; 01 đăng ký xe; 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn N1 và 05 mảnh vỡ nhựa thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.

Tại Bản án sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 21/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn D kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới. Tại phiên tòa, bị cáo D giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày căn cứ kháng cáo: Hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo là quá nặng vì tai nạn xảy ra tại điểm giao nhau cùng mức của các làn xe; lỗi của bị cáo là lỗi vô ý, bị hại cũng có lỗi vì đi nhanh; khi nhìn thấy bị hại bị cáo đã giảm tốc độ, đã bấm còi xe và đi đúng làn đường của mình... Hoàn cảnh của bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo không có công việc ổn định lại thường xuyên đau ốm, bị cáo có 03 con nhỏ; bị hại đã có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo

Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc giải quyết kháng cáo như sau: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, đúng thủ tục nên đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được chấp nhận. Nội dung kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đã tuyên là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với với bị cáo Nguyễn Văn D. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D đã đúng thủ tục, trong thời hạn luật định, đúng với quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

- Xét kháng cáo của bị cáo:

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24 tháng 02 năm 2024, tại điểm mở Km56+600 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn K, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn D (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô chở khách biển kiểm soát 28B-008.89 đi từ bến xe huyện N, tỉnh Ninh Bình theo hướng đi bến xe V, thành phố Hải Phòng trong điều kiện trời mưa, đường trơn trượt đã không tuân thủ về tốc độ khi tham gia giao thông, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức (điểm mở sang đường, có gờ giảm tốc độ trên mặt đường) nên đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 17B5-441.97 do ông Nguyễn Văn N1 điều khiển, dẫn đến hậu quả làm ông N1 chết. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại và được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, có bố đẻ là ông Nguyễn Văn C được Bộ trưởng Bộ Q1 tặng Bằng khen, trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi do không giảm tốc độ và nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông mà còn xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng nhân thân bị cáo đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản mặc dù đã được xoá án tích nhưng cũng phải đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, có ý thức coi thường pháp luật nên cần phải xử mức hình phạt nghiêm mới đảm báo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy, hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo D là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 21/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo D theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn D đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 180.000.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 21/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Trừ cho bị cáo Nguyễn Văn D thời gian bị tạm giam (từ ngày 16/5/2024 đến ngày 19/6/2024).

3. Về án phí hình sự: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm

4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 21/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - PV06 Công an TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS huyện Vĩnh Bảo;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Bảo;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - TAND huyện Vĩnh Bảo;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 182/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ (Nguyễn Văn D)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger