|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 182/2024/HSST Ngày: 28/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi
Bà Nguyễn Thị Luận
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 186/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trịnh Đăng M, sinh năm 1995; nơi ĐKHKTT và cư trú: Đ, thôn B, xã Q, huyện C, Tp .; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đăng Đ và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa; tiền sự: Không
Tiền án: Bản án số 305/2023/HSST ngày 13/11/2023, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Tp . phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 06/5/2024, nộp án phí HSST ngày 20/3/2024.
Nhân thân:
- - Bản án số 149/2018/HSST ngày 26/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 03/10/2029, nộp án phí HSST ngày 02/02/2019 (đã xóa án tích).
- - Ngày 24/3/2017, Tòa án nhân dân quận Hà Đông ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng.
- - Ngày 22/7/2020, Tòa án nhân dân quận Hà Đông ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 22 tháng.
D chỉ bản số 611 do Công an huyện C lập ngày 07/9/2024; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1960; Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện C, Tp. (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 29/8/2024, Trịnh Đăng M đi bộ một mình tại thôn L, xã Q, huyện C, Tp . để xem nhà nào sơ hở thì trộm cắp tài sản, bán lấy tiền ăn chơi. Khi M đi đến cổng nhà bà Trịnh Thị T - SN: 1960, trú tại: thôn L, xã Q, huyện C, Tp ., thì phát hiện cổng nhà bà T mở, nhìn thấy trong sân có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub màu xanh, BKS: 31-151-P6, có cắm chìa khóa ở xe. M đứng lại quan sát nhà bà T không có ai ở nhà, M lén lút đi bộ vào trong sân và dắt chiếc xe mô tô Honda Cub trên ra ngoài cổng. M mở khóa điện, nổ máy rồi điều khiển xe phóng đi đến nhà anh Bùi Văn T1 (SN: 1972, trú tại: thôn Ứ, xã L, huyện C, Tp .) để nhờ anh T1 bán chiếc xe trên giúp M. Khi gặp anh T1, M nói dối với anh T1: “Cháu có con xe 82 chú mang đi bán hộ cháu để lấy tiền tiêu”. T1 hỏi “Giấy tờ xe đâu?”, M trả lời “không có”. Do M không có giấy đăng ký xe nên anh T1 nghi ngờ chiếc xe trên là tài sản trộm cắp nên điều khiển chiếc xe trên đến gửi tại nhà ông Đặng Đình C (SN: 1961, ở cùng thôn) và báo tin cho Công an xã Q biết. Khoảng 11 giờ cùng ngày, nhận được tin báo, Công an xã Q đã đến nhà anh T1 để đưa M về trụ sở để làm việc về nguồn gốc chiếc xe Honda Cub màu xanh, BKS: 31-151-P6. M đã khai nhận đây là chiếc xe M vừa trộm cắp được. Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ vật chứng:
Vật chứng thu giữ:
01 xe mô tô BKS: 31-151-P6, nhãn hiệu Honda Cub, màu sơn xanh, số máy 1235285, số khung 122933.
Tại Kết luận định giá tài sản số 140/KL-HĐĐG ngày 04/09/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, TP ., kết luận:
“01 (một) xe mô tô BKS: 31-151-P6, nhãn hiệu Honda Cub, màu sơn xanh, số máy 1235285, số khung 122933, mua từ năm 1994, đăng ký ngày 08/09/1994. Tại thời điểm tháng 8/2024 có giá trị là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng)”
Cáo trạng số 176/CT-VKS ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Trịnh Đăng M về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên toà:
- - Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt Trịnh Đăng M từ 12 tháng đến 15 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì khác nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại: Xét thấy bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt. Trong quá trình điều tra bị hại đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 29/8/2024, tại thôn L, xã Q, huyện C, Tp., lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của gia đình bà Trịnh Thị T không có người ở nhà. Trịnh Đăng M đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub màu xanh, BKS: 31-151-P6 của bà T có trị giá tài sản là 5.000.000 đồng. Hành vi của Trịnh Đăng M đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Trịnh Đăng M theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[2.2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 13/11/2023, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Tp . phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2024 nên chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo Đ1 h Khoản 1 Điều 52 BLHS.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[2.4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô BKS: 31-151-P6, nhãn hiệu Honda Cub, màu sơn xanh là tài sản hợp pháp của bà Trịnh Thị T. Ngày 10/9/2024, bà T có đơn xin lại xe mô tô trên để quản lý, sử dụng. Ngày 26/9/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện C ra quyết định trả lại tài sản trên cho bà T quản lý, sử dụng. Bà T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu đề nghị M bồi thường gì khác.
[2.5] Đối với anh Bùi Văn T1: Sau khi trộm cắp được chiếc xe mô tô Honda Cub trên, M đã nhờ anh T1 bán hộ để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Tuy nhiên do nghi ngờ chiếc xe trên là tài sản M trộm cắp nên anh T1 đã mang chiếc xe trên đi gửi tại nhà ông Đặng Đình C và báo cho Công an xã Q biết. Do đó, anh Bùi Văn T1 không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[2.6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đăng M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt:
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.
Trịnh Đăng M 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Lợi |
Bản án số 182/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 182/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội
