Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2024/HS-ST

Ngày: 21 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.
Ông Huỳnh Phước.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Mị - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 168/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn V, sinh ngày: 15/12/1991 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: số A, đường T, Khóm F, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (chết) và bà Huỳnh Thị Đ; vợ, con chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/7/2024 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn X. Địa chỉ: số A T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Diệp Chí C, sinh ngày 13/9/1993. Nơi ở hiện nay: Số H đường L, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn V là người không có nghề nghiệp, để có tiền tiêu xài, V đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn X, địa chỉ: Số A, đường T, Khóm A, Phường B, thành phố S, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 02 năm 2024, V cầm theo một cây búa và một cây xà beng rồi điều khiển xe gắn máy biển số 83PT-164.03 đến dãy nhà B, đường số I, khu dân cư T, Khóm D, Phường B, thành phố S. V quan sát thấy có nhiều bộ cửa nhôm có kính tại dãy nhà B1 không có người trông coi nên V đi ra cửa phía sau căn nhà số A rồi đi lên tầng 1 dùng búa và xà beng cạy hai cánh (một bộ) cửa loại cửa nhôm Xingfa màu xám. V dùng búa đập bể kính cửa, dùng dây bó khung cánh cửa lại và khiêng xuống tầng trệt, rồi cắt giấu cây búa và cây xà beng vào bụi cỏ gần đó. Sau đó, V đi đến chùa H, số A, đường T, Phường B, thành phố S gặp ông Trần Đề D (ậu) hỏi mượn xe đẩy thì ông D đồng ý. Khi mượn được xe đẩy, Vủ rinh khung cánh cửa để lên xe đẩy rồi điều khiển xe gắn máy biển số 83PT-164.03 kéo theo xe đẩy đi đến đường T, Phường B, thành phố S bán cho người mua ve chai với số tiền 420.000 đồng. V tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ hai: Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 02 năm 2024, V điều khiển xe gắn máy biển số 83PT-164.03 đến dãy nhà B, đường số I, khu dân cư T, Khóm D, Phường B, thành phố S để trộm tài sản. Quan sát không có người trông coi nên V lấy cây búa và cây xà beng mà V cất giấu ở bụi cỏ trong lần lấy trộm trước rồi đi ra cửa sau căn nhà số A đi lên tầng 1 dùng búa và xà beng cạy một bộ cửa loại cửa nhôm Xingfa màu xám, cạy xong V dùng búa đập bể kính cửa rồi dùng dây bó khung cánh cửa lại và khiêng xuống tầng trệt, cất giấu cây búa và cây xà beng ở vị trí cũ. Sau đó, V đi đến chùa H gặp ông D mượn xe đẩy rồi rinh khung cánh cửa để lên xe đẩy và điều khiển xe gắn máy biển số 83PT-164.03 kéo theo xe đẩy đi đến đường T, Phường B, thành phố S bán cho người mua ve chai (không rõ họ tên và địa chỉ) với số tiền 430.000 đồng, V tiêu xài hết.

Lần thứ ba: Vào khoảng 11 giờ 50 phút, ngày 04 tháng 3 năm 2024, V điều khiển xe gắn máy biển số 83PT-164.03 đến dãy nhà B, đường số I, khu dân cư T, Khóm D, Phường B, thành phố S để trộm tài sản. Với thủ đoạn như hai lần trộm trước, V lấy trộm một bộ cửa loại cửa nhôm Xingfa màu xám tại tầng 1 của căn nhà số A. Sau đó, V bán cho người mua ve chai (không rõ họ tên và địa chỉ) tại đường T, Phường B, thành phố S với số tiền 445.000 đồng, V tiêu xài hết.

Lần thứ tư: Vào khoảng 12 giờ 10 phút, ngày 10 tháng 3 năm 2024, cũng với thủ đoạn như những lần trước, V điều khiển xe gắn máy biển số 83PT-164.03 đi đến tầng 1 của căn nhà số A dãy nhà B, đường số I, khu dân cư T, Khóm D, Phường B, thành phố S lấy trộm một bộ cửa loại cửa nhôm Xingfa màu xám. Sau đó, V bán cho người mua ve chai (không rõ họ tên và địa chỉ) tại đường T, Phường B, thành phố S với số tiền 460.000 đồng, V tiêu xài cá nhân hết.

2

Tại kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐG ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, kết luận: 08 (tám) bộ cửa nhôm Xingfa màu xám dày 1,4mm, khung nhôm có kính cường lực 8mm. Kích thước kính cường lực 01 cánh 0,47 x 2,26m, một bộ bao gồm 02 cánh mở, rộng 1,20m, cao 2,40m, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 80%, với giá 52.531.200 đồng (mỗi bộ cửa có giá 6.566.400 đồng).

Tại Cáo trạng số 172/CT-VKSTPST ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Trần Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Trần Văn V, đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý trong quá trình điều tra nên không đặt ra xem xét.

- Về trách nhiệm dân sự: Ông Diệp Chí C là đại diện theo ủy quyền của bị hại Công ty trách nhiệm hữu hạn X, yêu cầu bị cáo Trần Văn V bồi thường số tiền 26.265.500 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và nói lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Ông Diệp Chí C đại diện theo ủy quyền của bị hại Công ty trách nhiệm hữu hạn X, yêu cầu bị cáo Trần Văn V bồi thường số tiền 26.265.000 đồng, về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

3

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Văn V thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Để có tiền tiêu xài cá nhân, khoảng thời gian từ ngày 24 tháng 02 năm 2024 đến ngày 10 tháng 3 năm 2024, bị cáo Trần Văn V có hành vi lén lút lấy trộm tổng cộng bốn bộ cửa, mỗi bộ cửa gồm hai cánh, loại cửa nhôm Xingfa màu xám tại các căn nhà thuộc dãy nhà B, đường số I, khu dân cư T, Khóm D, Phường B, thành phố S của Công ty trách nhiệm hữu hạn X, số A, đường T, Khóm A, Phường B, thành phố S. Cụ thể như sau: Lần thứ nhất: Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 02 năm 2024, V lấy trộm một bộ cửa, loại cửa nhôm Xingfa màu xám tại căn số 11, có giá 6.566.400 đồng. Lần thứ hai: Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 02 năm 2024, V lấy trộm một bộ cửa, loại cửa nhôm Xingfa màu xám tại căn số 12, có giá 6.566.400 đồng. Lần thứ ba: Vào khoảng 11 giờ 50 phút, ngày 04 tháng 3 năm 2024, V lấy trộm một bộ cửa, loại cửa nhôm Xingfa màu xám tại căn số 15, có giá 6.566.400 đồng. Lần thứ tư: Vào khoảng 12 giờ 10 phút, ngày 10 tháng 3 năm 2024, V lấy trộm một bộ cửa, loại cửa nhôm Xingfa màu xám tại căn số 14, có giá 6.566.400 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản bị cáo Trần Văn V chiếm đoạt có giá trị là 26.265.600 đồng.

[3] Bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý lén lút lấy trộm tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, (khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm). Từ đó, Cáo trạng số 172/CT-VKSTPST ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có một tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội hai lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

4

[6] Về hình phạt: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên xử phạt bị cáo hình phạt tù với một thời gian nhất định đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra đã xử lý xong vật chứng nên không đặt ra xem xét.

[8] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ông Diệp Chí C đại diện của bị hại Công ty trách nhiệm hữu hạn X, yêu cầu bị cáo Trần Văn V bồi thường số tiền 26.265.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường. Xét thấy, việc thỏa thuận này đúng quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[10] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ khoản 1 Điều 584 và khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 01 (một) năm 06 tháng tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án.
  3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Trần Văn V bồi thường cho bị hại Công ty Trách nhiệm hữu hạn X số tiền 26.265.000 đồng (hai mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn V phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.313.280 đồng (một triệu ba trăm mười ba nghìn hai trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND TP Sóc Trăng (1);
  • - Công an TP Sóc Trăng (Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ, Cơ quan THAHS, Cơ quan cảnh sát điều tra) (3);
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng, hồ sơ THAHS (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Nam

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 182/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger