Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 182/2024/DS-ST

Ngày: 26/4/2024

V/v “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1./ Ông Nguyễn Văn Quản

2./ Ông Võ Văn Tốt

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 : Bà Trần Thị Yến Hoà - Kiểm sát viên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12 – Tp ..

Vào ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 613/2023/TLST-DS ngày 27/10/2023 về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 361/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng T

Địa chỉ trụ sở: 145- 147- A H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

Địa chỉ liên hệ: số A L, phường B, Quận A, Tp .

Đại diện ủy quyền: Bà Phan Thị Thùy D, sinh năm 1994 ( Có đơn xin xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: Ông Trương Anh D1, sinh năm 1990 ( Vắng mặt);

Địa chỉ thường trú: 012, Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.

Nơi cư trú hiện tại: số I, Tổ A, Khu phố B, phường Đ, Quận A, Tp ..

NỘI DUNG VỤ ÁN :

* Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 6 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng T (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày :

Ngày 06/06/2022, Ngân hàng T và ông Trương Anh D1 đã ký Hợp đồng tín dụng số 184/2022/LOS22/MG001/HĐTD/040 với số tiền cho vay 3.200.000.000 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất, Thửa đất số 520 TBĐ số 28 tại phường T, Quận A, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 783998, số vào sổ cấp GCN: CH 00146, do U cấp ngày 22/10/2010.

Tài sản trên được thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 184/2022/MG001/02.HĐTC/040 ngày 08/06/2022, được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ: D V, phường V, Quận C, TP . (số công chứng: 013592, quyển số 06/2022_TP/CC-SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại Quận A, TP . ngày 08/06/2022.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trương Anh D1 thường xuyên vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký, không thanh toán đầy đủ nợ gốc, lãi cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng T yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 12 giải quyết:

- Yêu cầu ông Trương Anh D1 phải thanh toán cho Ngân hàng T số tiền còn nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 26/4/2024 là 3.833.313.640đ theo Hợp đồng tín dụng số 184/2022/LOS22/MG001/HĐTD/040 ngày 06/06/2022 và tiếp tục tính tiền lãi kể từ ngày 27/4/2024 cho đến khi ông D1 thanh toán xong các khoản nợ.

- Trường hợp ông Trương Anh D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị Toà án tuyên Ngân hàng T được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số 184/2022/LOS22/MG001/02.HĐTC/040 ngày 08/6/2022 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CH00146 do Ủy ban nhân dân Quận U cấp ngày 22/02/2010 đã cập nhật sang tên ông Trương Anh D1 ngày 07/6/2022 để thu hồi nợ cho Ngân hàng T.Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản không đủ để thanh toán hết nợ của ông D1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng T.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hạn giải quyết vụ án thì chưa đảm bảo, cần xem xét rút kinh nghiệm. Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền vay tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nên đây là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Ông Trương Anh D1 có địa chỉ cư trú tại số I, Tổ A, Khu phố B, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về thủ tục tố tụng :

Nguyên đơn Ngân hàng T ( Đại diện uỷ quyền bà Phan Thị Thùy D) có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trương Anh D1 vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.

Về nội dung hợp đồng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Khoản 2 Điều 92 BLTTDS quy định một bên không phản đối tình tiết bên kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và thông báo hòa giải nhưng đã không gửi văn bản phản đối những tình tiết bên nguyên đơn đưa ra. Như vậy bên nguyên đơn không phải chứng minh những tình tiết nguyên đơn đưa ra là chứng cứ. Từ đó:

Xét yêu cầu thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng số 184/2022/LOS22/MG001/HĐTD/040 ngày 06/6/2022 giữa Ngân hàng và ông Trương Anh D1, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định giữa hai bên Ngân hàng và ông D1 đã có ký kết hợp đồng tín dụng. Đây là hợp đồng dân sự được hai bên Ngân hàng và ông D1 giao kết một cách tự nguyện.

Tính đến ngày 26/4/2024, ông D1 còn nợ Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 184/2022/LOS22/MG001/HĐTD/040 ngày 06/6/2022 tổng cộng là 3.833.313.640đ, trong đó nợ gốc là 3.167.947.342đ, tiền lãi là 665.366.298đ.

Theo quy định tại Điều 91 Luật Các Tổ Chức Tín Dụng năm 2010, hai bên có quyền thỏa thuận về lãi suất theo quy định của pháp luật, nên những thỏa thuận giữa ông D1 và Ngân hàng về lãi suất là phù hợp pháp luật do đó chấp nhận.

Bị đơn ông D1 không thanh toán tiền gốc và lãi theo đúng Hợp đồng tín dụng số 184/2022/LOS22/MG001/HĐTD/040 ngày 06/6/2022 nên ông D1 phải trả cho Ngân hàng tổng cộng số nợ tính đến ngày 26/4/2024 là 3.833.313.640đ.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm:

Tài sản đảm bảo cho khoản vay của ông D1 tại Ngân hàng là quyền sử dụng đất, Thửa đất số 520 TBĐ số 28 tại phường T, Quận A, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 783998, số vào sổ cấp GCN: CH 00146, do U cấp ngày 22/10/2010, đã cập nhật sang tên ông Trương Anh D1 ngày 07/6/2022.

Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện trạng tài sản thế chấp nói trên không có gì thay đổi so với thời điểm thế chấp cho Ngân hàng. Tài sản thế chấp hiện đã xuống cấp, không có ai cư trú sinh sống tại đây.

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: 184/2022/MG001/02.HĐTC/040 ngày 08/06/2022 giữa bên thế chấp là ông D1 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại Quận A, TP . ngày 08/06/2022 theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Điều 6 của Hợp đồng thế chấp tài sản hai bên đã thỏa thuận việc xử lý tài sản trong trường hợp: “Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm theo quy định tại khoản 2.1 Điều 2 Hợp đồng này ( bao gồm thu hồi nợ trước hạn) mà bên thế chấp không trả nợ đầy đủ, đúng hạn theo thoả thuận tại hợp đồng tín dụng và các văn bản liên quan”. Do đó khi ông D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đối với Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là có căn cứ và phù hợp với Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 về giao dịch bảo đảm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nói trên được dùng để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông D1, nếu thừa sẽ được trả lại cho ông D1; nếu còn thiếu thì ông D1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ.

- Về chi phí tố tụng:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông D1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tài sản là 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng). Nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông D1 phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 15.000.000đ. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của nguyên đơn đối với khoản tiền phải trả nêu trên cho đến khi thi hành xong, nếu ông D1 không thi hành hoặc thi hành không hết còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn phải chịu án phí là 108.666.273đ (Một trăm lẻ tám triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, hai trăm bảy mươi ba đồng);

Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 117, 119, 298, 299, 317, 318, 323, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 4, Điều 90, Điều 91 của Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;

- Căn cứ Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Trương Anh D1 phải trả cho Ngân hàng T số tiền tính đến ngày 26/4/2024 tổng cộng là 3.833.313.640đ (Ba tỷ tám trăm ba mươi ba triệu, ba trăm mười ba nghìn, sáu trăm bốn mươi đồng), trong đó trong đó nợ gốc là 3.167.947.342đ, tiền lãi là 665.366.298đ theo Hợp đồng tín dụng số 184/2022/LOS22/MG001/HĐTD/040 ngày 06/6/2022 ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ tiếp tục được điều chỉnh trong giai đoạn thi hành án.

Trường hợp ông D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đối với Ngân hàng T thì Ngân hàng T có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, Thửa đất số 520 TBĐ số 28 tại phường T, Quận A, Tp . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 783998, số vào sổ cấp GCN: CH 00146, do U cấp ngày 22/10/2010 đã cập nhật sang tên ông Trương Anh D1 ngày 07/6/2022, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: 184/2022/MG001/02.HĐTC/040 ngày 08/06/2022 để thu hồi nợ.

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nói trên được dùng để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông D1, nếu thừa sẽ được trả lại cho ông D1; nếu còn thiếu thì ông D1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng T cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ.

2. Về chi phí tố tụng:

Ông Trương Anh D1 phải trả cho Ngân hàng T số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tài sản.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của nguyên đơn đối với khoản tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) phải trả nêu trên cho đến khi thi hành xong, nếu ông Trương Anh D1 chậm thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Trương Anh D1 phải chịu án phí là 108.666.273đ ( Một trăm lẻ tám triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, hai trăm bảy mươi ba đồng);

- Hoàn trả cho Ngân hàng T số tiền 49.927.418đ ( Bốn mươi chín triệu, chín trăm hai mươi bảy nghìn, bốn trăm mười tám đồng), tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0030020 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát trực tiếp cấp trên là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 182/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân Hàng T yêu cầuTrương Anh D1 thanh toán tiền vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger