Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 6 - 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Trí
  2. Bà Đào Thị Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 249/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim V, sinh năm 1999;
  2. Địa chỉ: số C, ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (có mặt).

  3. Bị đơn: Anh Trần Thanh H, sinh năm 1993
  4. Địa chỉ: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Qua quá trình tự tìm hiểu và yêu thương nhau nên chị V và anh H tự nguyện tiến đến hôn nhân vào tháng 4/2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 20/6/2022. Sau khi kết hôn, chị V và anh H chung sống tại số nhà C, ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Từ trước đến nay chị V, anh H không có về nhà của anh H tại địa chỉ ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang sinh sống. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 12/2022 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, không chăm lo cho vợ con; vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, khi xảy ra cự cãi, anh H thường dùng lời lẽ thô tục đối với chị V. Đến tháng 01/2023, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng do chị V đã cho anh H nhiều lần cơ hội nhưng anh H không thay đổi tính tình nên vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 29/9/2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên có tạo điều kiện để anh H và chị V hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị V có cho anh H cơ hội nhưng anh H vẫn không thay đổi tính tình và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên chị V và anh H không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị V yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị V và anh H có 01 (một) con chung tên Trần Nguyễn Phước T, sinh ngày 29/9/2022, hiện nay con chung đang sống với chị V. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con chung.

Anh Trần Thanh H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Chị Nguyễn Thị Kim V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 12/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cự cãi do anh H không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, không chăm lo cho vợ con, khi vợ chồng xảy ra cự cãi thì anh H thường dùng lời lẽ thô tục xúc phạm đến danh dự chị V. Mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng từ tháng 01/2023 và do anh H không thay đổi tính tình nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên có tạo điều kiện để anh H và chị V hàn gắn tình cảm vợ chồng và chị V có cho anh H cơ hội nhưng anh H vẫn không thay đổi tính tình và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không hàn gắn được. Do đó, chị V yêu cầu được ly hôn với anh H; về con chung, chị V yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Nguyễn Phước T, sinh ngày 29/9/2022; chị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung, chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Trần Thanh H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim V. Về quan hệ hôn nhân, chị Nguyễn Thị Kim V được ly hôn với anh Trần Thanh H. Chị Nguyễn Thị Kim V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Nguyễn Phước T, sinh ngày 29/9/2022; anh Trần Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Theo giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh của con chung, anh Trần Thanh H có nơi cư trú tại ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 03/5/2024 (BL: 15A), anh Trần Thanh H có cư trú tại ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang nhưng hiện nay vắng mặt tại địa phương do đi làm ăn; anh H không có trình báo chính quyền địa phương nên không xác định được nơi làm việc và thời gian trở về của anh H. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Trần Thanh H tại ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[1.2] Chị Nguyễn Thị Kim V khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Trần Thanh H, yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Trần Thanh H (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Kim V rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc anh Trần Thanh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với số tiền 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Xét thấy, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Kim V, phù hợp quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu buộc anh Trần Thanh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của chị Nguyễn Thị Kim V.

[1.4] Đối với anh Trần Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa, anh Trần Thanh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Thanh H.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Đối với quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Kim V cho rằng, chị V và anh H tự nguyện kết hôn vào năm 2022 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vợ chồng chung sống đến tháng 12/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cự cãi do anh H không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, không chăm lo cho vợ con, khi vợ chồng xảy ra cự cãi thì anh H thường dùng lời lẽ thô tục xúc phạm danh dự chị V. Mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng từ tháng 01/2023, vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên có tạo điều kiện để anh H và chị V hàn gắn tình cảm vợ chồng và chị V có cho anh H cơ hội nhưng anh H vẫn không thay đổi tính tình và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị V yêu cầu ly hôn với anh H.

Anh Trần Thanh H đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim V.

Xét thấy, chị Nguyễn Thị Kim V và anh Trần Thanh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Trần Thanh H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị V theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị V và anh H theo quy định của pháp luật nhưng anh H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Trần Thanh H không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh H nên lời trình bày của chị V về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị V và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị V yêu cầu ly hôn anh H phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.2] Đối với con chung:

Chị Nguyễn Thị Kim V xác định chị V và anh H có 01 con chung tên Trần Nguyễn Phước T, sinh ngày 29/9/2022, hiện nay đang sống với chị V. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; chị V không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Thanh H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị V và anh H ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị V, từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Trần Nguyễn Phước T sinh sống với chị V cho đến nay; quá trình sinh sống với chị V, cháu T vẫn được chăm sóc, phát triển tốt. Để ổn định cuộc sống cho cháu T, giúp cháu T phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị V yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị V và anh H ly hôn phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Kim V là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị V và anh H ly hôn nên anh Trần Thanh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị Kim V không yêu cầu anh Trần Thanh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[2.4] Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị Kim V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. [1] Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim V về việc yêu cầu anh Trần Thanh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng 1.000.000 (một triệu) đồng/tháng đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.
  2. [2] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim V.
    1. [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim V được ly hôn anh Trần Thanh H.

      Giấy chứng nhận kết hôn số 42, ngày 20/6/2022 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp cho chị Nguyễn Thị Kim V và anh Trần Thanh H không còn giá trị pháp lý.

    2. [2.2] Về con chung:

      Chị Nguyễn Thị Kim V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Nguyễn Phước T, sinh ngày 29/9/2022. Hiện nay đang sống với chị Nguyễn Thị Kim V.

      Anh Trần Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

      Chị Nguyễn Thị Kim V cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Trần Thanh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

      Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

    3. [2.3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    4. [2.4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. [3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim V phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0015152 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
  4. [4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  5. [5] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - Đương sự;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Phước Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 182/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Qua quá trình tự tìm hiểu và yêu thương nhau nên chị V và anh H tự nguyện tiến đến hôn nhân vào tháng 4/2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 20/6/2022. Sau khi kết hôn, chị V và anh H chung sống tại số nhà C, ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Từ trước đến nay chị V, anh H không có về nhà của anh H tại địa chỉ ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang sinh sống. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 12/2022 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, không chăm lo cho vợ con; vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, khi xảy ra cự cãi, anh H thường dùng lời lẽ thô tục đối với chị V. Đến tháng 01/2023, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng do chị V đã cho anh H nhiều lần cơ hội nhưng anh H không thay đổi tính tình nên vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 29/9/2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên có tạo điều kiện để anh H và chị V hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị V có cho anh H cơ hội nhưng anh H vẫn không thay đổi tính tình và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên chị V và anh H không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị V yêu cầu được ly hôn với anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger