|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 182/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 9 - 2024
V/v ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huân .
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Bùi Thúy Mở.
Ông Bùi Đức Khoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 208/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L; nơi cư trú: Thôn A, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T; nơi cư trú: Thôn A, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Vũ Thị L là nguyên đơn, khởi kiện với nội dung chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 26 tháng 10 năm 2007. Sau lễ cưới, chị L về chung sống cùng anh T tại thôn A, xã K, huyện T, Hải Phòng. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận và có 03 con chung, đôi khi cũng phát sinh mâu thuẫn nhưng vợ chồng vẫn chung sống cùng nhau. Đến tháng 4 năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng trong sinh hoạt, anh T mải chơi, hay uống rượu và không chăm lo phát triển kinh tế gia đình nên vợ chồng xảy ra cãi mắng xúc phạm nhau. Chị L đã về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên chị L giữ nguyên đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Chị và anh T có ba con chung tên Nguyễn Trung T1 sinh ngày 12 tháng 12 năm 2008, Nguyễn Minh T2 sinh ngày 18 tháng 9 năm 2013 và Nguyễn Thị Ngọc A sinh ngày 18 tháng 3 năm 2018. Tại phiên tòa, chị L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung tên Nguyễn Trung T1 và Nguyễn Minh T2; để anh T được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Ngọc A. Cấp dưỡng nuôi con do chị và anh T tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, chị và anh T tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Văn T là bị đơn, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác, song đến ngày mở phiên tòa, anh Nguyễn Văn T vẫn không có văn bản trình bày ý kiến về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung và tài sản chung.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên đã tuân theo đúng quy định của pháp luật quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vũ Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Giao con chung tên Nguyễn Thị Ngọc A cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng; giao các con chung tên Nguyễn Trung T1 và Nguyễn Minh T2 cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên đơn nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết
Chị Vũ Thị L có đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn T hiện đang cư trú tại thôn A, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của bị đơn
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về yêu cầu của chị Vũ Thị L ly hôn với anh Nguyễn Văn T
Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, việc kết hôn giữa chị L và anh T là hợp pháp. Qua lời khai của đương sự và tài liệu xác minh tại địa phương, tại gia đình anh Nguyễn Văn T thống nhất thể hiện, đời sống chung của chị L và anh T đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hòa hợp và bất đồng trong sinh hoạt, kinh tế chung gia đình không có và khó khăn dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi mắng xúc phạm nhau. Chị L đã nhiều lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, nhưng sau đó vợ chồng lại đoàn tụ. Đến nay, do mâu thuẫn, chị L đã về ở cùng với bố mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay. Gia đình đã tham gia hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Tại các buổi làm việc và tại phiên tòa, chị L giữ nguyên đề nghị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Anh T biết việc chị L làm đơn xin ly hôn với anh nhưng anh T vắng mặt không đến Tòa án trình bày quan điểm và cũng không tham gia hòa giải theo quy định. Từ đây xác định mâu thuẫn hôn nhân giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L đề nghị được ly hôn với anh T.
[4] Về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Văn T có 03 con chung là Nguyễn Trung T1 sinh ngày 12 tháng 12 năm 2008, Nguyễn Minh T2 sinh ngày 18 tháng 9 năm 2013 và Nguyễn Thị Ngọc A sinh ngày 18 tháng 3 năm 2018. Tại phiên tòa, chị L thay đổi nguyện vọng về việc nuôi con và đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung tên Nguyễn Trung T1 và Nguyễn Minh T2; để anh T được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Ngọc A. Hội đồng xét xử xét: Từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị L về ở cùng với mẹ đẻ tại thôn A, xã C, huyện T, Hải Phòng; còn anh T vẫn ở nhà riêng tại thôn A, xã K, huyện T, Hải Phòng. Chị Vũ Thị L hiện là công nhân tại khu công nghiệp V, có thu nhập ổn định; anh Nguyễn Văn T là lao động tự do tại địa phương. Về nguyện vọng của các con chung thể hiện: Quá trình giải quyết vụ án, con chung Nguyễn Minh T2 có lời khai thể hiện muốn được ở cùng mẹ trong trường hợp bố mẹ ly hôn. Tại phiên tòa, con chung Nguyễn Trung T1 trình bày hiện nay cháu đang ở ổn định cùng với mẹ và mong muốn được tiếp tục ở cùng mẹ. Con chung tên Nguyễn Thị Ngọc A đang là học sinh lớp 1 của trường tiểu học và hiện đang ở cùng với anh T; bố mẹ đẻ của anh T có lời khai xác nhận khẳng định việc hỗ trợ anh T trong việc chăm sóc các cháu. Vì vậy, để ổn định đời sống của các con chung và để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con cái, căn cứ Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Ngọc A; giao cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng các con chung tên Nguyễn Trung T1 và Nguyễn Minh T2 là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:
Cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Chị Vũ Thị L đề nghị tự thỏa thuận với anh Nguyễn Văn T về cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Văn T không có quan điểm về việc đề nghị chị Vũ Thị L cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.
[6] Về tài sản chung, chị Vũ Thị L không đề nghị Tòa án giải quyết. Mặt khác, anh Nguyễn Văn T không có ý kiến gì về tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung trong vụ án này.
[7] Về án phí, chị Vũ Thị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị L:
-
Về quan hệ hôn nhân:
Cho chị Vũ Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
-
Về con chung:
Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Thị Ngọc A sinh ngày 18 tháng 3 năm 2018; giao cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng các con chung tên Nguyễn Trung T1 sinh ngày 12 tháng 12 năm 2008 và Nguyễn Minh T2 sinh ngày 18 tháng 9 năm 2013, đến khi các con chung thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
-
Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn:
Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về tài sản chung:
Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về án phí:
Chị Vũ Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi tại biên lai thu số 0009997 ngày 02/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên), chị Vũ Thị L đã nộp đủ án phí.
-
Về quyền kháng cáo:
Chị Vũ Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huân |
Bản án số 182/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 182/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Vũ Thị L xin ly hôn anh Nguyễn Văn T
