TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 182/2023/HS-ST Ngày: 15 – 11 – 2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Tấn Đức;
- Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Phú xét sử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2023/QĐXXST-HS ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đối với các bị cáo:
- Nguyễn Hồng Ngọc V, sinh năm 2001; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 250/9 đường P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Ngọc Q và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; Vợ, con: chưa có;
- Lưu Tấn L, sinh năm 2002; Tại: TP .; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: B đường Â, phường E, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: nhà không số, ấp B, xã V, huyện B, TP .; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Hồng Q1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1978; Vợ, con: chưa;
- Nguyễn Quốc H1, sinh ngày 24/01/2005; Tại: TP .; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: B đường Số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: không rõ và bà Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1983; Vợ, con: chưa;
Nhân thân: ngày 05/02/2018 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP . xử phạt 03 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/09/2019.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/02/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T6 và có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Ngày 12/12/2017 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản; Ngày 09/10/2018 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, tổng hợp hình phạt với bản án của Tòa án nhân dân quận Bình Tân buộc Lưu Tấn L phải chấp hành chung của 02 bản án là 07 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2022. (Bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội dưới 16 tuổi).
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/02/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T6 và có mặt tại phiên tòa.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/02/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T6 và có mặt tại phiên tòa.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Lưu Tấn L: Luật sư Huỳnh Túy G – Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư T7 (Có mặt).
- Người Bị hại:
- Chị Phan Thị Ngọc Đ1, sinh năm 1974; Địa chỉ: A đường T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985; trú tại: 1 N, phường P, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Chị Ngô Cẩm H2, sinh năm 1970; trú tại: A T, phường P, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Chị Phan Thị Hoàng K, sinh năm 1993; trú tại: F đường số B, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Trương Ngọc H3, sinh năm: 2004; trú tại: C T, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Anh Vũ Thế T2, sinh năm 2003; trú tại: B N, phường N, quận A, TP . (Vắng mặt).
- Anh La Hoài Đ2, sinh năm 1977; trú tại: ấp G, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hồng Ngọc V, Nguyễn Quốc H1 và Lưu Tấn L là bạn quen biết nhau từ trước, do không có nghề nghiệp nên khoảng 12 giờ ngày 24/01/2023 V rủ L, H1 cùng đi cướp giật tài sản để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì cả hai đồng ý. Sau đó, V điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59T1- 086.03 (đã được V dán decal thay bằng biển số 63U1 - 244.49) còn H1 điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 59M2-689.78 chở L qua nhiều tuyến đường tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật.
Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến trước nhà số A N, phường P, quận T, V phát hiện anh Phan Tấn T3 điều khiển xe gắn máy chở chị Phan Thị Ngọc Đ1 ngồi sau đeo một túi xách phía trước nên nảy sinh ý định cướp giật túi xách. V liền điều khiển xe gắn máy đuổi theo anh T3 đến trước nhà số A N, phường P, quận T thì áp sát bên phải và dùng tay trái giật lấy túi xách của chị Đ1 còn H1 điều khiển xe gắn máy chở L chạy theo sau thấy V đã giật được túi xách, không ai truy đuổi nên H1 điều khiển xe chở L cùng V tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát, V kiểm tra túi xách vừa giật được thì phát hiện bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu bạc nên cất vào lưng quần phía trước bên phải và hai sấp tiền tổng cộng có 6.000.000 đồng rồi bỏ tiền vào túi quần phía sau còn túi xách thì vứt xuống đường (không nhớ địa chỉ). Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, chị Đ1 đã đến Công an phường trình báo.
Theo kết luận định giá tài sản số 712 /KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T thời điểm định giá ngày 24/01/2023 kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu bạc trị giá 9.800.000 đồng; 01 giỏ xách không có nhãn hiệu, chất liệu bằng da tổng hợp, màu nâu có kích thước ngang 20cm, cao 25cm, rộng 10cm phần quay xách bằng da tổng hợp không xác định được giá trị tài sản do không rõ mã sản phẩm, xuất xứ.
Tổng trị giá tài sản bị cướp giật là 15.800.000 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định Nguyễn Hồng Ngọc V đã thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản như sau:
Vụ thứ 1: Sau khi cướp giật được tài sản của chị Đ1, cùng ngày 24/01/2023 V tiếp tục điều khiển xe gắn máy biển số 59T1- 086.03 đi tìm tài sản sơ hở để cướp giật, lúc này do V điều khiển xe gắn máy chạy nhanh nên H1 và L bị lạc, không đi cùng V. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến trước nhà số C H, phường P, quận T, V phát hiện chị Vân Thị T4 đang điều khiển xe gắn máy chở cháu Huỳnh Văn T5 ngồi giữa và chị Nguyễn Thị T1 ngồi sau để một túi xách trước bụng. V liền điều khiển xe gắn máy chạy lên từ phía sau áp sát bên phải chị T1 và dùng tay trái giật được chiếc túi xách trên rồi tăng ga tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát, V kiểm tra trong túi xách có 01 ví da, 02 tờ tiền USD mỗi tờ trị giá 100 USD, số tiền 1.800.000 đồng rồi bỏ tiền vào túi và tiếp tục tẩu thoát.
Sau đó, V điều khiển xe gắn máy đến đường L thì cởi áo khoác ra cất ở rổ trước ba ga xe và gỡ giấy decal biển số 63U1-244.49 ra vứt bỏ rồi điều khiển xe gắn máy về nhà số B Ấp C, phường B, quận B thì gặp H1 và L. Tại đây, V nói trong túi xách cùng H1 và L cướp giật được tại trước số A N, phường P, quận T có số tiền 6.000.000 đồng nên V chia cho H1 và L mỗi người 1.000.000 đồng; V không nói cho H1 và L biết đã cướp giật tài sản tại trước nhà số C H. Số tiền cướp giật được V đã tiêu xài hết. Đến khoảng 19 giờ 00 cùng ngày, V liên hệ với một người tên T3 (chưa rõ lai lịch) bán chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 cướp giật được của chị Đ1 với giá 3.500.000 đồng, V cho T3 500.000 đồng, số tiền còn lại V đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 02/02/2023 chị T1 đã đến Công an phường P trình báo vụ việc.
Theo kết luận định giá tài sản số 712 /KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T thời điểm định giá ngày 24/01/2023 kết luận: 01 giỏ xách không có nhãn hiệu, chất liệu bằng vải dù màu nâu có kích thước ngang 25cm, cao 25cm, rộng 12cm, phần quai xách bằng vải dù không xác định được giá trị tài sản do không rõ mã sản phẩm, xuất xứ; 01 ví cầm tay màu đen có chữ “CLASIC&MODERN” chất liệu bằng da tổng hợp có kích thước ngang 20cm, cao 10cm, rộng 05cm không xác định được giá trị tài sản do không rõ mã sản phẩm, xuất xứ.
Theo kết quả giá USD tại ngân hàng TMCP S xác định 01 USD giá mua vào là 23.450 đồng, như vậy 200 USD trị giá 4.600.900 đồng (BL181-182)
Vụ thứ 2: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 29/10/2022, V điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu bạc biển số 71C1-185.49 qua nhiều tuyến đường tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật. Khi đến hẻm S T, phường P, quận T, V phát hiện chị Ngô Cẩm H2 đang đi bộ tại trước nhà số A T, phường P, quận T trên cổ chị H2 đeo sợi dây chuyền bằng vàng có mặt dây chuyền hình bông hoa đính đá màu trắng, V liền điều khiển xe gắn máy chạy ngược chiều lại áp sát bên trái chị H2 và dùng tay trái giật đứt sợi dây chuyền làm mặt dây chuyền bị văng ra (chưa thu hồi được) còn V giữ được sợi dây chuyền trên tay rồi tăng ga tẩu thoát. Sau đó, V mang sợi dây chuyền đến tiệm vàng trên đường L, quận B (chưa rõ địa chỉ) bán với giá 8.000.000 đồng, số tiền này V đã tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, chị H2 đã đến Công an phường P trình báo.
Theo kết luận định giá tài sản số 56 /KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 11/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T thời điểm định giá ngày 29/10/2022 kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18K, trọng lượng 3,59 chỉ; 01 mặt dây chuyền hình bông hoa có đính nhiều hột đá nhỏ màu trắng, khung làm bằng vàng 18K, trọng lượng 1,53 chỉ trị giá 20.295.680 đồng.
Vụ thứ 3: Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 27/11/2022, V điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 71C1 - 185.49 qua nhiều tuyến đường tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật. Khi đến trước nhà số C T, phường T, quận T, V phát hiện ông Phan Hùng D điều khiển xe gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 50Y1- 230.69 chở chị Phan Thị Hoàng K ngồi sau đeo balo phía sau, V liền điều khiển xe gắn máy chạy từ phía sau áp sát bên phải chị K, dùng tay trái giật balo trên thì ông D tấp xe dừng vào lề đường nên V không giật được balo, lúc này chị Kim tri h “cướp, cướp” thì V tăng ga tẩu thoát. Sau đó, do sợ bị phát hiện V đã tháo biển số xe 71C1 - 185.49 vứt bỏ và lấy biển số 59T1-086.03 của một người (chưa rõ lai lịch) gắn vào xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter để lưu thông. Sau đó, chị K đã đến Công an phường T trình báo.
Qua làm việc chị K khai nhận bên trong balo có 01 điện thoại di động hiệu S1 S10, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 FE5G.
Theo kết luận định giá tài sản số 712/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T thời điểm định giá ngày 26/11/2022 kết luận: 01 balo màu xám, chất liệu bằng simili màu xám, hiệu Forever 21, có kích thước ngang 25cm, cao 30cm, rộng 15cm, không xác định được giá trị tài sản do không rõ mã sản phẩm, xuất xứ; 01 điện thoại di động hiệu S1 S21 FE5G, 128Gb, màu xanh trị giá 9.300.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu S1 S10, 256Gb, màu xanh trị giá 5.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 14.800.000 đồng.
Qua truy xét, Cơ quan điều tra đã bắt được Nguyễn Hồng Ngọc V, Lưu Tấn L và Nguyễn Quốc H1. Tại Cơ quan điều tra, các bị can đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ:
- - Thu giữ của chị Phan Thị Hoàng K: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 FE5G, 128Gb, màu xanh, số Imei 1: 3522970500084684, số Imei 2: 353232940084686; 01 điện thoại di động hiệu S1 S10, 256Gb, màu xanh số Imei 1: 354652107270480, số I 2: 354653107270488, là tài sản Vinh cướp giật của chị K. Cơ quan điều tra đã cho chị K là phù hợp.
- - Thu giữ của chị Phạm Trương Ngọc H3: 01 dĩa CD-R80 hiệu Maxell, màu vàng ghi lại hình ảnh bị can V cướp giật tài sản của chị Phan Thị Hoàng K tại trước số C T, phường T, quận T (Kèm hồ sơ vụ án), (BL 387).
- - Thu giữ của Nguyễn Hồng Ngọc V:
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, số Imei: 356462521530933, V sử dụng liên lạc với H1 thực hiện hành vi phạm tội;
- + 01 ví cầm tay có chữ “CLASIC &MODERN”, là tài sản V cướp giật của chị Nguyễn Thị T1.
- + 01 áo thun ngắn tay màu trắng có chữ “CONECTION”, 01 áo khoác dài tay màu xám đỏ có chữ “LOSHIP”, 01 đôi dép màu đen, phần quai dép có chữ “GG” màu vàng, 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 khẩu trang bằng vải carô màu trắng xám là trang phục V mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản;
- + 01 áo khoác dài tay họa tiết màu đen xám, là trang phục L mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản;
- - Thu giữ của Nguyễn Quốc H1:
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu xám, số Imei: 353836082701921, H1 sử dụng liên lạc với V thực hiện hành vi phạm tội;
- + 01 quần lửng Jeans màu đen xám, 01 đôi dép màu đen xám, phần quai dép màu xám có họa tiết và chữ “GIVENCHY”, là trang phục H1 mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản;
- - Thu giữ của Lưu Tấn L:
- + 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A33, màu đen, số Imei: 353475124754232, L sử dụng liên lạc cá nhân;
- + 01 cảng xe bằng kim loại màu đen, 01 ốp đầu đèn bằng nhựa màu đen, 01 mặt nạ trước bằng nhựa màu đen, 01 dè trước bằng nhựa màu đen, 02 ốp hông trước bằng nhựa màu đen, 02 ốp hông sau bằng nhựa màu đen, là phụ tùng của xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59T1-086.03 V sử dụng để đi cướp giật tài sản;
- + 01 đôi dép màu đen, phần quai dép có màu carô đen xám, là trang phục L mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản;
- + 01 mũ bảo hiểm màu đen, là trang phục V mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản;
- + 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision màu xanh, biển số: 59M2 - 689.78, số máy: JK03E0667816, số khung: RLHJK0318NY044422, L sử dụng làm phương tiện đi cướp giật tài sản. Qua xác minh xe gắn máy trên do bị can L đứng tên chủ sở hữu.
- + 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh, biển số: 59T1-086.03, số máy: 1S9A061460, số khung: RLCE1S9A0EY061435, là xe gắn máy V sử dụng để đi cướp giật tài sản.
Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 85/PNK ngày 19/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
Về phần dân sự: Chị Phan Thị Ngọc Đ1 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V, Nguyễn Quốc H1 và Lưu Tấn L bồi thường số tiền 20.000.000 đồng. Chị Ngô Cẩm H2 yêu cầu bị cáo V bồi thường số tiền 18.976.000 đồng. Chị Nguyễn Thị T1 yêu cầu bị cáo V bồi thường số tiền 6.500.000 đồng. Chị Phan Thị Hoàng K không yêu cầu bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 180/CT-VKS ngày 06/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP . để xét xử bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm c,d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Truy tố các bị cáo Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1 về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên Tòa:
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c,d khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V từ 05 năm đến 06 năm tù.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Lưu Tấn L từ 04 năm đến 05 năm tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H1 từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Lưu Tấn L trình bày: thống nhất tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Trong vụ án này người rủ rê lôi kéo bị cáo L tham gia thực hiện hành vi phạm tội là bị cáo V. Vai trò tham gia của bị cáo L trong vụ án hạn chế. Bị cáo có trình độ văn hóa thấp nên hạn chế về khả năng nhận thức. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp hơn mức án mà Viện kiểm sát đề nghị.
- Các Bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V, Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, qua phần xét hỏi và tranh luận, các bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V, Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/01/2023, Nguyễn Hồng Ngọc V, Lưu Tấn L và Nguyễn Quốc H1 có hành vi sử dụng xe gắn máy cướp giật 01 túi xách bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 trị giá 9.800.000 đồng, số tiền 6.000.000 đồng, tổng trị giá 15.800.000 đồng của chị Phan Thị Ngọc Đ1 tại trước nhà số A N, phường P, quận T thì bị bắt giữ.
Ngoài ra, Nguyễn Hồng Ngọc V còn sử dụng xe gắn máy thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản khác cụ thể: Ngày 29/10/2022 cướp giật 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18K, trọng lượng 3,59 chỉ; 01 mặt dây chuyền hình bông hoa có đính nhiều hột đá nhỏ màu trắng, khung làm bằng vàng 18K, trọng lượng 1,53 chỉ tổng trị giá 20.295.680 đồng của chị Ngô Cẩm H2 tại trước nhà số A T, phường P, quận T; Ngày 27/11/2022 cướp giật 01 balo màu xám bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 FE5G, 128Gb, màu xanh trị giá 9.300.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu S1 S10, 256Gb, màu xanh trị giá 5.500.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 14.800.000 đồng của chị Phan Thị Hoàng K tại trước nhà số C T, phường T, quận T; Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/01/2023 cướp giật 01 túi xách bên trong có 01 ví da, 02 tờ tiền 100 USD trị giá 4.600.900 đồng, số tiền 1.800.000 đồng, tổng trị giá 6.400.900 đồng của chị Nguyễn Thị T1 tại trước nhà số C H, phường P, quận T. Tổng trị giá tài sản V cướp giật trong 04 vụ án trên là 57.296.580 đồng.
Do đó, Cáo trạng số 180/CT-VKS ngày 06/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm c,d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Truy tố các bị cáo Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1 về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, đồng thời gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo V, L đều có nhân thân xấu. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn vì giữa các bị cáo trước khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc, phân công và câu kết chặt chẻ. Để có cơ sở lượng hình, Hội đồng xét xử phân tích vai trò tham gia của các bị cáo trong vụ án, cụ thể như sau:
[3] Đối với bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V: là người trực tiếp rủ rê lôi kéo đồng bọn thực hiện tội phạm. Chính bị cáo là người thực hành trong vụ án và là người trực tiếp cướp giật trong 04 vụ. Sau khi cướp giật được tài sản chính bị cáo là người đem tài sản đi tiêu thụ và chia tiền cho đồng bọn. Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Nên Hội đồng xét xử cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe. Đối với vụ cướp giật tài sản của chị Phan Thị Hoàng K, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 15 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình vì phạm tội chưa đạt.
[3.1] Đối với các bị cáo Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1: khi được Nguyễn Hồng Ngọc V rủ tham gia cướp giật các bị cáo đã đồng ý ngay. H1 điều khiển xe gắn máy chở L ngồi sau chạy theo V, mục đích nếu thấy người đuổi theo thì các bị cáo có nghĩa vụ ngăn cản để V tẩu thoát. Vai trò tham gia của các bị cáo L, H1 là ngang nhau. Các bị cáo chỉ tham gia cùng với V thực hiện 01 vụ cướp giật nên vai trò của các bị cáo hạn chế hơn bị cáo V.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự.
- - Chị Phan Thị Ngọc Đ1 yêu cầu các bị cáo V, H1, L phải có trách nhiệm bồi thường số tiền: 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị Đ1. Xét việc thỏa thuận bồi thường giữa chị Đ1 và các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Cụ thể chia phần: 20.000.000 đồng : 3 = 6.667.000 đồng (làm tròn số). Mỗi bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Đ1 số tiền: 6.667.000 đồng là phù hợp.
- - Chị Ngô Cẩm H2 yêu cầu bị cáo V bồi thường số tiền 18.976.000 đồng. Chị Nguyễn Thị T1 yêu cầu bị cáo V bồi thường số tiền 6.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo V đồng ý yêu cầu bồi thường của chị Ngô Cẩm H2 và chị Nguyễn Thị T1. Xét thỏa thuận bồi thường giữa chị H2, chị T1 và bị cáo V là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- - Chị Phan Thị Hoàng K đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Thu giữ của chị Phan Thị Hoàng K: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 FE5G, 128Gb, màu xanh, số Imei 1: 3522970500084684, số Imei 2: 353232940084686; 01 điện thoại di động hiệu S1 S10, 256Gb, màu xanh số Imei 1: 354652107270480, số I 2: 354653107270488, là tài sản Vinh cướp giật của chị K. Cơ quan điều tra đã cho chị K là phù hợp.
- - Thu giữ của chị Phạm Trương Ngọc H3: 01 dĩa CD-R80 hiệu Maxell, màu vàng ghi lại hình ảnh bị cáo V cướp giật tài sản của chị Phan Thị Hoàng K tại trước số C T, phường T, quận T (Kèm hồ sơ vụ án). Lưu hồ sơ vụ án.
- - Thu giữ của Nguyễn Hồng Ngọc V:
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, số Imei: 356462521530933, V sử dụng liên lạc với H1 thực hiện hành vi phạm tội. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- + Đối với 01 ví cầm tay có chữ “CLASIC &MODERN”, là tài sản V cướp giật của chị Nguyễn Thị T1. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 áo thun ngắn tay màu trắng có chữ “CONECTION”, 01 áo khoác dài tay màu xám đỏ có chữ “LOSHIP”, 01 đôi dép màu đen, phần quai dép có chữ “GG” màu vàng, 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 khẩu trang bằng vải carô màu trắng xám là trang phục V mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 áo khoác dài tay họa tiết màu đen xám, là trang phục L mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Thu giữ của Nguyễn Quốc H1:
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu xám, số Imei: 353836082701921, H1 sử dụng liên lạc với V thực hiện hành vi phạm tội. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- + Đối với 01 quần lửng Jeans màu đen xám, 01 đôi dép màu đen xám, phần quai dép màu xám có họa tiết và chữ “GIVENCHY”, là trang phục H1 mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Thu giữ của Lưu Tấn L:
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A33, màu đen, số Imei: 353475124754232, L sử dụng liên lạc cá nhân. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo L.
- + Đối với 01 cảng xe bằng kim loại màu đen, 01 ốp đầu đèn bằng nhựa màu đen, 01 mặt nạ trước bằng nhựa màu đen, 01 dè trước bằng nhựa màu đen, 02 ốp hông trước bằng nhựa màu đen, 02 ốp hông sau bằng nhựa màu đen, là phụ tùng của xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59T1-086.03 V sử dụng để đi cướp giật tài sản. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- + Đối với 01 đôi dép màu đen, phần quai dép có màu carô đen xám, là trang phục L mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 mũ bảo hiểm màu đen, là trang phục V mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision màu xanh, biển số: 59M2 - 689.78, số máy: JK03E0667816, số khung: RLHJK0318NY044422, L sử dụng làm phương tiện đi cướp giật tài sản. Qua xác minh xe gắn máy trên do bị can L đứng tên chủ sở hữu. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- + Đối với 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh, biển số: 59T1-086.03, số máy: 1S9A061460, số khung: RLCE1S9A0EY061435, là xe gắn máy V sử dụng để đi cướp giật tài sản. Qua làm việc V khai nhận: mua xe gắn máy trên của một người tên P (chưa rõ lai lịch) với giá 28.000.000 đồng, không làm thủ tục sang tên, khi mua xe gắn máy trên có biển số 71C1-18549, sau đó V sử dụng xe đi cướp giật tài sản thì gắn biển số giả 59T1-086.03, biển số này V nhờ bạn tên P1 (chưa rõ lai lịch) đặt làm với giá 350.000 đồng.
- Qua xác minh biển số 59T1-086.03 là của xe gắn máy hiệu Honda Future, số máy: JC45E0098677, số khung: RLHJC350XAY036528 do anh Vũ Thế T2, thường trú số B N, phường N, Quận A đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc anh T2 cho biết đã bán lại xe gắn máy trên cho cửa hàng xe gắn máy cũ (không nhỡ rõ địa chỉ) vào năm 2021 và không làm thủ tục mua bán, sang tên chủ sở hữu. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy 01 biển số 59T1-086.03.
- Giám định số máy: 1S9A061460, số khung: RLCE1S9A0EY061435 không thay đổi, qua xác minh số máy, số khung trên là xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter có biển số 71C1-185.49 do anh La Hoài H4, thường trú: ấp G, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre đứng tên chủ sở hữu. Anh H4 cho biết đã bán xe gắn máy trên cách đây khoảng 4 năm và không làm thủ tục mua bán, sang tên chủ sở hữu. Cần giao chiếc xe trên cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú đăng thông tin tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng, nếu không tìm được chủ sở hữu thì sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1. Mỗi bị cáo phải nộp: 333.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V phải nộp: 1.607.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V, Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1 đều phạm tội “Cướp giật tài sản”.
[2] Áp dụng: điểm c,d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 15, 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V.
[2.1] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V 06 (sáu) năm tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ: ngày 02/02/2023.
[3] Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1.
[3.1] Xử phạt: bị cáo Lưu Tấn L 04 (bốn) năm tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ: ngày 02/02/2023.
[3.2] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Quốc H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ: ngày 02/02/2023.
[4] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.
- - Buộc các bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V, Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1. Mỗi bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Phan Thị Ngọc Đ1 số tiền: 6.667.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Ngô Cẩm H2 số tiền: 18.976.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị T1 số tiền: 6.500.000 đồng.
[5] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, số Imei: 356462521530933; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu xám, số Imei: 353836082701921; 01 cảng xe bằng kim loại màu đen, 01 ốp đầu đèn bằng nhựa màu đen, 01 mặt nạ trước bằng nhựa màu đen, 01 dè trước bằng nhựa màu đen, 02 ốp hông trước bằng nhựa màu đen, 02 ốp hông sau bằng nhựa màu đen, là phụ tùng của xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59T1-086.03 V sử dụng để đi cướp giật tài sản; 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision màu xanh, biển số: 59M2 - 689.78, số máy: JK03E0667816, số khung: RLHJK0318NY044422.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 ví cầm tay có chữ “CLASIC &MODERN”; 01 áo thun ngắn tay màu trắng có chữ “CONECTION”, 01 áo khoác dài tay màu xám đỏ có chữ “LOSHIP”, 01 đôi dép màu đen, phần quai dép có chữ “GG” màu vàng, 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 khẩu trang bằng vải carô màu trắng xám; 01 áo khoác dài tay họa tiết màu đen xám; 01 quần lửng Jeans màu đen xám, 01 đôi dép màu đen xám, phần quai dép màu xám có họa tiết và chữ “GIVENCHY”; 01 đôi dép màu đen, phần quai dép có màu carô đen xám; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 biển số 59T1-086.03.
- - Lưu hồ sơ vụ án: 01 dĩa CD-R80 hiệu Maxell.
- - Trả lại cho bị cáo Lưu Tấn L: 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A33, màu đen, số I: 353475124754232.
- - Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú đăng thông tin tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng, nếu không tìm được chủ sở hữu thì sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh, số máy: 1S9A061460, số khung: RLCE1S9A0EY061435.
Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 85/PNK ngày 19/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- - Buộc Nguyễn Hồng Ngọc V, Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Buộc các bị cáo Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1. Mỗi bị cáo phải nộp: 333.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V phải nộp: 1.607.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc V, Lưu Tấn L, Nguyễn Quốc H1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT SỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Thành |
Bản án số 182/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 182/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
