Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:182/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/6/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi

con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nguyên

Bà Ngô Thị Thơm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 235/2024/HNGĐ-TLST ngày 08/5/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/05/2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986.

    Địa chỉ: Khu Kỳ Sơn Dưới, phường Tân Dân, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

    Hiện ở: Đài Loan.

    Người được anh Đ ủy quyền giao nhận văn bản: Chị Đào Thị Thu N; Địa chỉ: Tầng D, số C phố Đ, phường T, Quận C, T. Hà Nội.

  2. Bị đơn: Chị Lê Thị V, sinh năm 1984.

    Địa chỉ: Khu K, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

(Anh Đ, chị V đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nguyên đơn - anh Nguyễn Văn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị V được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (nay là phường T, thành phố C) ngày 09/02/2010. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2013 anh Đ sang Đài Loan lao động, thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc. Anh Đ về Việt Nam thăm gia đình trong những kỳ nghỉ phép. Đến cuối năm 2022 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, hai bên thiếu sự tin tưởng, không tìm được tiếng nói chung. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị V.

Về quan hệ con chung: Anh và chị V có 02 con chung là Nguyễn Quang V1, sinh ngày 25/3/2014 và Nguyễn Tiến D, sinh ngày 17/6/2011. Hiện nay các con đang ở với mẹ, ly hôn anh đồng ý để chị V nuôi hai con. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, hàng tháng anh sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị V mỗi con là 2.500.000đồng/tháng.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Các bên tự thỏa thuận, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Đ tự nguyện chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

- Tại bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt bị đơn - chị Lê Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Đ tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (nay là phường T, thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 09/02/2010. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được 9 năm. Năm 2013 anh Đ đi Đài Loan lao động, thời gian đầu vợ chồng vẫn hòa thuận và thường xuyên liên lạc. Đến năm 2022 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm. Vợ chồng mỗi người sống một nơi, thiếu sự quan tâm đến nhau. Nay chị và anh Đ đều xác định không còn tình cảm. Anh Đ có đơn xin ly hôn chị cũng đồng ý.

Về quan hệ con chung: Chị và anh Đ có 02 con chung là Nguyễn Tiến D, sinh ngày 17/6/2011 và Nguyễn Quang V1, sinh ngày 25/3/2014. Hiện nay các con đang ở với chị, ly hôn chị và anh Đ thỏa thuận chị nuôi hai con, anh Đ có trách nhiệm cấp dưỡng hàng tháng tiền nuôi con cùng chị là 5.000.000đồng/ 2 con/ tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Đ không có tài sản chung, không có nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Cháu Nguyễn Tiến D và cháu Nguyễn Quang V1 là con chung của anh Đ chị V có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Do điều kiện công việc nên anh Nguyễn Văn Đ không thể về Việt Nam để giải quyết ly hôn, anh ủy quyền cho chị Đào Thị Thu N giao, nhận các văn bản tại Tòa án. Chị N có quan điểm đồng ý nhận ủy quyền của anh Đ. Sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án, chị N đã thông tin cho anh Đ biết, anh Đ vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của anh Nguyễn Văn Đ và chị Lê Thị V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh Đ được ly hôn chị V. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 17/6/2011 và Nguyễn Quang V1, sinh ngày 25/3/2014 cho chị Lê Thị V chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, chấp nhận sự tự nguyện của anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng cùng chị V là 5.000.000đồng/2 cháu. Anh Đ phải chịu án phí ly hôn nhân nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Lê Thị V đều có Hộ khẩu thường trú tại Khu K, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Hiện tại anh Đ đang sinh sống tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

    Tài liệu của anh Nguyễn Văn Đ gửi về Tòa án bao gồm: Đơn ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, đơn từ chối hòa giải viên đều được xác nhận của Văn phòng K tại Đ. Do vậy, có căn cứ xác định nội dung các văn bản này thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của anh Đ.

    Quá trình giải quyết vụ án anh Đ, chị V đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.

  2. Về nội dung:
    • Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Lê Thị V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (nay là

phường T, thành phố C) ngày 09/02/2010, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc được 9 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau, hai bên thiếu sự chia sẻ, quan tâm dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay anh Đ, chị V đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh Đ có đơn xin ly hôn, chị V cũng đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh Đ, chị V đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn Đ.

  • Về con chung: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Lê Thị V có hai con chung là Nguyễn Tiến D, sinh ngày 17/6/2011 và Nguyễn Quang V1, sinh ngày 25/3/2014, ly hôn anh Đ, chị V thỏa thuận chị V là người trực tiếp nuôi con. Xét thấy, thực tế các cháu V1, cháu D đang ở với mẹ, các cháu được học tập và phát triển tốt, anh Đ ở nước ngoài nên không đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung. Do vậy, cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao cháu D, cháu V1 cho chị V nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, chấp nhận sự tự nguyện của anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị V là 5.000.000đồng/2 con/1 tháng, thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 6/2024 đến khi các con đủ 18 tuổi.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  1. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Lê Thị V.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Tiến D, sinh ngày 17/6/2011 và Nguyễn Quang V1, sinh ngày 25/3/2014 cho chị Lê Thị V chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, chấp nhận sự tự nguyện của anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị V mỗi tháng là 5.000.000đồng/2 con, thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 6/2024 cho đến khi các con tròn 18 tuổi.

Anh Nguyễn Văn Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Kể từ khi chị V có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con mà anh Đ không thi hành khoản tiền trên, thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật dân sự.

  1. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000669 ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh Đ đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh Đ còn phải nộp 300.000đồng án phí cấp dưỡng tiền nuôi con.
  2. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Chị Lê Thị V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Tân Dân
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 182/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger