TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 182/2024/HNGĐ-ST Ngày 10/7/2024 “V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tâm;
Ông Khuông Văn Thông.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Không tham gia phiên tòa.
Ngày 10/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 118/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/5/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/6/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 02/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Minh K, sinh ngày 01/10/1988 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Chỗ ở hiện nay: xóm T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Chị LEE KAYOUNG, sinh ngày 24/12/1987 - Quốc tịch: Hàn Quốc (vắng mặt)
Số hộ chiếu: M917Z1442, cấp ngày 28/11/2022 - nơi cấp: Bộ N
Địa chỉ Hàn Quốc: Room 201, B, 353-2 G, Gijang-eup, Gijang-gun, B, K1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn anh Lê Minh K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị LEE KAYOUNG xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng kí kết hôn ngày 17 tháng 7 năm 2023 tại Đại sứ Q tại Hàn Quốc. Quá trình yêu đương anh chị hạnh phúc, anh chị đã quyết định đăng kí kết hôn tại Hàn Quốc. Từ ngày đăng kí kết hôn cho dù anh vẫn đang ở Việt Nam và chị LEE KAYOUNG ở Hàn Quốc nhưng vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Đến khoảng tháng 11/2023 khi anh đang hoàn tất hồ sơ thủ tục để xin visa sang Hàn Quốc đoàn tụ với vợ nhưng không hiểu lý do gì chị LEE KAYOUNG lại quyết định thay đổi suy nghĩ nên anh chị đã xảy ra cãi nhau và bắt đầu từ đó là hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Vì vậy, anh làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho anh được ly hôn với chị LEE KAYOUNG theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Anh K và chị LEE KAYOUNG không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh K và chị LEE KAYOUNG không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì lý do bận công việc, anh đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp và các phiên tòa xét xử vụ án của Tòa án các cấp có thẩm quyền giải quyết vụ án của anh. Anh giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình.
* Bị đơn là chị LEE KAYOUNG hiện đang sinh sống ở Hàn Quốc đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, đồng thời gửi Văn bản ý kiến và ủy quyền như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị nhất trí với trình bày của anh Lê Minh K về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn. Nay anh K có đơn xin ly hôn, chị đồng ý với ý kiến của anh K. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị ly hôn của anh K.
- Về con chung: Chị và anh K không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh K không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị không có mặt tại Việt Nam nên chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị tại các buổi làm việc, các phiên họp và các phiên tòa xét xử. Đồng thời, chị ủy quyền cho chị Ngô Diệu T, sinh ngày: 17/6/1987, địa chỉ: Tổ G, phường T, Thành phố T, Căn cước công dân: [...] do Cục cảnh sát cấp ngày: 20/4/2023 là người thay mặt chị giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án có thẩm quyền tại Việt Nam giải quyết vụ việc của chị và anh Lê Minh K. Thời hạn ủy quyền cho đến khi giải quyết xong công việc.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Lê Minh K có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn đối với chị LEE KAYJOUNG. Bị đơn chị LEE KAYJOUNG hiện đang sinh sống tại địa chỉ R, B, 3 G, Gijang-eup, Gijang-gun, B, K1. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn chị LEE KAYJOUNG được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2, Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Lê Minh K và bị đơn chị LEE KAYOUNG đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, hòa giải và xét xử. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Lê Minh K và bị đơn chị LEE KAYOUNG đăng ký kết hôn ngày 17/7/2023 tại Q tại Hàn Quốc, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn anh K xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với chị LEE KAYOUNG. Xem xét đơn khởi kiện của anh K, HĐXX thấy: anh K xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và không liên lạc với nhau. Chị LEE KAYOUNG hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, anh K xác định không còn tình cảm. Chị LEE KAYOUNG nhất trí với toàn bộ trình bày của anh Lê Minh K và đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh K và chị LEE KAYOUNG đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh K, xử cho anh K được ly hôn với chị LEE KAYOUNG.
[4]. Về con chung: Anh K và chị LEE KAYOUNG xác định vợ chồng không có con chung nên không đặt ra xem xét.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Anh K và chị LEE KAYOUNG xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung, không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Lê Minh K phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh K.
1. Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Minh K được ly hôn với chị LEE KAYOUNG.
2. Về án phí: anh Lê Minh K phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 00001202 ngày 20/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
3. Về quyền kháng cáo:
- Chị LEE KAYOUNG hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Anh Lê Minh K cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 182/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 182/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
