Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 182/2024/HS-ST

Ngày: 07 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhân Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Hoàng Trọng Minh Thông, nghề nghiệp: Giáo viên, Bí thư Đoàn thanh niên Trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ, thành phố Huế.
  • + Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn, nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Minh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Thu Thanh và ông Hoàng Trọng Thọ - đều là Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế (số F N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/TLST-HS ngày 12/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 17/5/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Võ T (tên gọi khác: Jet); giới tính: Nam, sinh ngày 14/6/2006, tại tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi cư trú: 7 Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không, con ông Lê Đức H, con bà Võ Thị S, anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Không

Tiền sự: 01 tiền sự (ngày 08/6/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 15 tháng (quyết định số 19 ngày 08/6/2021).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023 (có mặt).

2. Họ và tên: Dương Văn H1 (tên gọi khác: Rốt); giới tính: Nam, sinh ngày 05/4/2005, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Không, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; con ông Dương Văn N; con bà Nguyễn Thị G, anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có.

Về nhân thân:

  • - Ngày 08/3/2022, bị Công an phường T, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền do đã có hành vi tàng trữ hung khí (quyết định số 496).
  • - Ngày 30/11/2023, bị Công an thành phố H, xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền do đã có hành vi gây thương tích (quyết định số 8237);

Tiền án: Không;

Tiền sự: 03 tiền sự:

  • - Ngày 24/01/2022, bị Công an phường A, thành phố H, xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền do đã có hành vi gây rối (quyết định số 19);
  • - Ngày 28/02/2022, bị Chủ tịch UBND phường T, thành phố H ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường trong thời hạn 03 tháng do đã có hành vi xâm hại sức khỏe người khác (quyết định số 66);
  • - Ngày 18/4/2022, bị Công an phường T, thành phố H, xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền do đã có hành vi gây mất trật tự khu dân cư (quyết định số 516);

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023 (có mặt).

3. Họ và tên: Nguyễn Thế B; giới tính: Nam, sinh ngày 04/10/2006, tại: Tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi cư trú: Số F M, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Không, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 9/12; con ông Nguyễn Thế M, con bà: Nguyễn Thị Lệ T1, bị cáo là người con duy nhất trong gia đình, vợ, con: Chưa có.

Về nhân thân:

  • - Ngày 24/01/2022, bị Công an thành phố H, xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo do đã có hành vi gây rối trật tự trên đường phố (quyết định số 17).
  • - Ngày 21/02/2022, bị Công an thành phố H, xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo do đã có hành vi gây mất trật tự (quyết định số 499).
  • - Ngày 18/4/2022, bị Công an thành phố H, xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo do đã có hành vi gây mất trật tự (quyết định số 499);
  • - Ngày 10/11/2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” (bản án số 95/2023/HSPT ngày 10/11/2023);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù của bản án số: 95/2023/HSPT ngày 10/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).

4. Họ và tên: Trần Văn Q (tên gọi khác: Cu Em); giới tính: Nam, sinh ngày 17/6/2006, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không, trình độ học vấn: 6/12, con ông Trần Văn H2 con bà Võ Thị T2, anh chị em ruột: 04 người, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình, vợ, con: Chưa có.

Về nhân thân: Ngày 25/6/2023 bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền do đã có hành vi gây thương tích cho người khác (quyết định số 8239).

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/02/2024 (có mặt).

5. Họ và tên: Ngô Anh D, giới tính: Nam, sinh ngày 17/02/2004 tại tỉnh tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi cư trú: số A Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Không, quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12, con ông Ngô Anh D1, con bà Hồ Thị Mỹ P, anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình, vợ, con: Chưa có.

Về nhân thân: Ngày 23/11/2023 bị Cơ quan điều tra Công an thành phố H ra quyết định khởi tố bị can về tội “Gây rối trật tự công cộng” (quyết định số 567);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023 (có mặt)

6. Họ và tên: Phạm Văn D2; giới tính: Nam, sinh ngày 25/11/2005 tại tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi cư trú: Số D P, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Không, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12, con ông Phạm Văn H3, con bà Đỗ Thị C, anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình, vợ con: Chưa có.

Về nhân thân: Ngày 23/01/2021 bị Công an phường T, thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo do đã có hành vi xâm hại sức khỏe người khác (quyết định số 5717).

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023 (có mặt).

7. Họ và tên: Dương Trung Gia H4, giới tính: Nam; sinh ngày 02/4/2006, tại tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi cư trú: Số D B, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Lao động tự do, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; con ông: Dương Đại H5 (chết); con bà: Nguyễn Thị Diễm A, vợ, con: Chưa có; anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023 (có mặt)

8. Họ và tên: Nguyễn Minh Đông Á, giới tính: Nam, sinh ngày 25/9/2005, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số A T, A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Lao động tự do, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không, trình độ học vấn: 9/12, con ông: Nguyễn Minh P1, con bà Phạm Thị Thanh V, vợ, con: Chưa có; anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Về nhân thân: Ngày 21/01/2022, bị Công an thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo do đã có hành vi xâm hại sức khỏe người khác (quyết định số 694);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023, đến ngày 29/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” (có mặt).

9. Họ và tên: Đoàn Văn T3, giới tính: Nam, sinh ngày 26/11/2006; tại tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi cư trú: Số C T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Lao động tự do, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12, con ông: Đoàn Q1, con bà: Văn Thị L; vợ, con: Chưa có, anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Về nhân thân: Ngày 23/11/2023, bị cơ quan Cơ quan điều tra Công an thành phố H ra quyết định khởi tố bị can do đã có hành vi gây rối trật tự công cộng (quyết định số 569);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023 (có mặt).

10. Họ và tên: Hoàng Nhật T4; giới tính: Nam, sinh ngày 19/12/2003 tại tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi cư trú: Số A Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Lao động tự do, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không, trình độ học vấn: 9/12, con ông Hoàng L1, con bà Nguyễn Thị Mộng T5, anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023 (có mặt).

11. Họ và tên: Phan Văn Nhật H6 (tên gọi khác: H), giới tính: N1, sinh ngày 23/7/2005 tại tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi cư trú: Tổ D, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Lao động tự do, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo, trình độ học vấn: 12/12, con ông: Phan Văn T6, con bà: Phạm Thị Thu N2, anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình, vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

12. Họ và tên: Phạm Đinh Phúc S1; giới tính: Nam, sinh ngày 25/11/2005; tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Lao động tự do, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Phạm Phúc S2; con bà Đinh Thị Vân K; anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

13. Họ và tên: Đoàn Văn Bảo H7, giới tính: Nam, sinh ngày 07/10/2005, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Lao động tự do, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Đoàn Văn T7, con bà Nguyễn Thị Á1; Vợ, con: Chưa có; anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

Về nhân thân: Ngày 18/4/2022, bị Công an thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo do đã có hành vi gây rối trật tự đường phố (quyết định số 515);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023 (có mặt).

14. Họ và tên: Nguyễn Văn Quang H8 (tên gọi khác: Rôn); giới tính: Nam; sinh ngày 11/8/2005; tại tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp: Không, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Nguyễn Văn T8, con bà Hoàng Thị Kim L2, vợ, con: Chưa có, anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.

Về nhân thân: Ngày 19/02/2024, bị Cơ quan điều tra Công an thành phố H ra quyết định khởi tố bị can về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” (quyết định số 143).

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Võ T: Ông Lê Đức H và bà Võ Thị S, nơi cư trú: 7 Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (bà S có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thế B: Ông Nguyễn Thế M và bà Nguyễn Thị Lệ T1, nơi cư trú: Số F M, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (ông M có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn Q: Ông Trần Văn H2 và bà Võ Thị T2, nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (bà T2 có mặt)

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Trung Gia H4: Bà Nguyễn Thị Diễm A, nơi cư trú: Số D B, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (bà A có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đoàn Văn T3: Ông Đoàn Q1 và bà Văn Thị L, nơi cư trú: Số C T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (ông Q1 có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Võ T: Bà Trần Thị Hồng M1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thế B: Bà Nguyễn Thị S3 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Q: Ông Đặng Bá Q2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Dương Trung Gia H4: Bà Nguyễn Thị B1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Văn T3: Bà Đỗ Thị Thanh H9 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Đinh Phúc S1: Ông Nguyễn Văn C1- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

- Người bào chữa bị cáo Phan Văn Nhật H10: Ông Hoàng Quốc H11, Luật sư của Công ty L3 (thuộc Đoàn luật sư tỉnh T), địa chỉ: B N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Lê Kỳ Q3, sinh năm 1985, nơi cư trú: B Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1985, nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
  • + Ông Đoàn Văn T7, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
  • + Ông Ngô Anh D1, sinh năm 1979, nơi cư trú: Kiệt A M, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Minh P1, sinh năm 1985, nơi cư trú: B Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).

- Người làm chứng:

  • + Anh Phan Nguyễn Bảo T9, sinh năm 2008, nơi cư trú: Thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Anh Lê Quốc P2, sinh năm 2007, nơi cư trú: B Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Anh Đinh Hoàng H12, sinh năm 2006, nơi cư trú: 4 Kiệt A T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Anh Trần Hữu T10, sinh năm 2005, nơi cư trú: Kiệt A M, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Anh Võ Lê Bảo K1, sinh năm 2006, nơi cư trú: 1 L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Anh Nguyễn Hồng Â, sinh năm 2007, nơi cư trú: B T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Anh Trần Ngọc T11, sinh năm 2005, nơi cư trú: 7 Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Anh Nguyễn Quốc T12, sinh năm 2004, A P, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị Thanh H13, sinh năm 1984, nơi cư trú: 4 D, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Bà Trương Thị Hồng T13, sinh năm 1979, nơi cư trú: 3 Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Chị Trần Thị Phương N3, sinh năm 1988, nơi cư trú: 4 Ư, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
  • + Anh Nguyễn Văn M2, sinh năm 1996, nơi cư trú: C T, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn trước đó giữa Phạm Nguyễn Bảo T14, sinh ngày 14/5/2008 và Lê Quốc P2, sinh ngày 14/5/2007 nên T14 và P2 hẹn đánh nhau tại khu vực tượng đài Q, phường T, thành phố H, vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 09/02/2023. Sau đó, T14 nhờ Dương Văn H1 kêu gọi người khác cùng tham gia đánh nhau, H1 đồng ý. P2 nhờ Võ T kêu gọi người khác cùng tham gia đánh nhau, T đồng ý.

Võ Trung nhắn tin lên mạng xã hội qua ứng dụng Messenger để mọi người trong nhóm T biết và chuẩn bị hung khí giúp P2 giải quyết mâu thuẫn, tham gia đánh nhau với nhóm H1, gồm: Đinh Hoàng H12, sinh ngày 01/06/2007, Phạm Văn D2, Trần Hữu T10, sinh năm 200, ; Hoàng Nhật T4, Nguyễn Minh Đông Á, Võ Lê Bảo K1, sinh ngày 24/02/2007, Đoàn Văn T3, Nguyễn Hồng Â, sinh ngày 13/3/2007, Ngô Duy A1, Dương Trung Gia H4 thì tất cả đồng ý.

Tiếp theo 06 người của nhóm T gồm: K1, Â, A, T3 và T10, tập trung tại nhà T10 và mang theo hung khí, gồm: 04 cây dao phóng lợn (dài 2,5m-3m), 01 dao tự chế dài 80cm. Còn T mang theo 01 cây kiếm bằng kim loại dài 82cm và cả nhóm 12 người đến tập trung tại khu vực tượng đài Q để chờ nhóm H1 đến để đánh nhau.

Cùng thời điểm này, Dương Văn H1 nhắn tin lên mạng xã hội qua ứng dụng Messenger để mọi người trong nhóm H1 biết và chuẩn bị hung khí tham gia đánh nhau với nhóm T, gồm: Nguyễn Thế B, Trần Văn Q, Phan Văn Nhật H6, Phạm Đình Phúc S4, Nguyễn Văn Quang H8, Đoàn Văn Bảo H7. Dương Văn H1 mang theo 01 cây dao mèo bằng kim loại dài khoảng 60cm, Q mang theo 1 cây dao mèo bằng kim loại dài khoảng 42cm, B mang theo 01 kiếm tự chế dài 85cm. Nhật Huy điều khiển xe mô tô (không xác định được biển số, chủ sở hữu) chở phía sau là H1 cầm 01 dao Mèo; S4 điều khiển xe mô tô chở phía sau B cầm 01 kiếm tự chế, H7 điều khiển xe máy điện chở phía sau là Quang H8, cùng nhau chạy đến khu vực tượng đài Q.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, do chưa thấy nhóm H1 đến nên T kêu gọi nhóm của mình mang theo hung khí để chạy đi tìm nhóm của H1. Cụ thể, lúc này 09 người gồm: Đinh Hoàng H12 điều khiển xe mô tô (không xác định được biển số, chủ sở hữu) chở phía sau gồm K1 cầm 01 dao phóng lợn, T cầm 01 dao phóng lợn và một số vỏ chai bia; T3 điều khiển xe mô tô (không xác định được biển số, chủ sở hữu) chở phía sau gồm D cầm 01 dao phóng lợn, H4 cầm 01 dao phóng lợn; T4 điều khiển xe mô tô (không xác định được biển số, chủ sở hữu) chở phía sau gồm D2 cầm 01 cây kiếm, Đông Á cầm 01 dao tự chế. Nhóm T đi theo tuyến đường N- P- Đ- Đ. Đối với 03 người còn lại trong nhóm quá trình điều tra xác định được như sau: Â điều khiển xe mô tô (không xác định được biển số, chủ sở hữu) chở Phú chạy về quán cà phê N4 để gặp bạn (tại đường Đ, phường T, thành phố H); sau đó Â quay lại khu vực tượng đài Quang T15 chở T10 về quán cà phê N4 (Â, P2, T10 không tham gia sự việc đánh nhau).

Khi đến khu vực nơi giao nhau giữa đường Đ- Đ, phường T, thành phố H, thì nhóm H1 và nhóm T15 gặp nhau. T15 ném vỏ chai bia vào nhóm H1, rồi hai nhóm xông vào đuổi đánh, chém nhau hỗn loạn từ khu vực nơi giao nhau giữa đường Đ- Đào Tấn đến khu vực nơi giao nhau giữa đường Đ- P, phường T, thành phố H. Lúc này, Đinh Hoàng H12 chở phía sau là T15 và K1 cầm 02 cây dao phóng lợn đuổi đánh xe mô tô do Nhật H6 điều khiển chở phía sau là H1, đến đoạn đường V, phường T, thì dừng lại.

S4 chở B, Q cầm theo dao, kiếm đuổi theo xe của T4 chở D2, Đ, đến khu vực hẻm phía trước ngã tư Đ- P thì dừng lại. B, Q tiếp tục cầm dao đuổi đánh xe của T3, chở phía sau là D, H4 đến kiệt A T thì dừng lại. S4 chở B, Q quay lại quán cà phê “Ngọt” (tại ngã tư Đ- Đ) truy đuổi P2 thì P2 bỏ chạy.

Còn H7, Quang H8 (nhóm H1) không mang theo hung khí nên chỉ tham gia truy đuổi nhau tại khu vực ngã tư Đ- Đ

Khi chứng kiến sự việc 02 nhóm H1- Trung đuổi đánh, chém nhau gây náo loạn, ách tắt giao thông tại khu vực nên quần chúng nhân dân đã gọi điện thoại trình báo sự việc đến Trung tâm C2 (thuộc Phòng C3 về TTXH Công an tỉnh T) để can thiệp giải quyết. Sau đó, lực lượng Cảnh sát 113 kịp thời có mặt tại hiện trường ngăn chặn, truy bắt đối tượng liên quan, thu giữ hung khí.

Sự việc xảy ra không gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng.

Sau khi sự việc xảy ra, nhận thấy tính chất nghiêm trọng của vụ việc nên ngày 16/9/2023 Cơ quan Công an phường T, thành phố H đã có văn bản báo cáo đề nghị có nội dung: Sự việc xảy ra khoảng 20 phút thì được ngăn chặn nên chưa gây ra hậu quả về thương tích và tài sản. Nhưng Công an phường T nhận thấy tính chất vụ việc rất phức tạp, hành vi dùng xe mô tô và hung khí rượt đuổi để đánh chém nhau của hai nhóm đối tượng là rất nguy hiểm cho người tham gia giao thông qua lại trên các tuyến đường mất an toàn, người dân sinh sống, buôn bán trong khu vực rất bất bình, hoang mang lo lắng, đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Ngày 25/11/2023, Phòng C3 về TTXH Công an tỉnh T, đã có văn bản số: 2460/PC06, có nội dung: Hai nhóm thanh niên đã hẹn từ trước để đánh nhau, trong lúc các đối tượng đi xe mô tô mang theo hung khí tìm nhau thì đã gặp và tổ chức đánh nhau tại giao lộ giữa đường Đ- Đ, gây nguy hiểm, hoang mang cho người tham gia giao thông trên đường, gây mất trật tự tại khu vực.

Vật chứng vụ án đã tạm giữ:

  • - 01 cây dao mèo dài 42cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ;
  • - 01 cây dao tự chế dài 85cm, cán bằng kim loại bọc băng keo; lưỡi bằng kim loại;
  • - 01 cây dao tự chế dài 80cm, cán bọc băng keo; lưỡi bằng kim loại;
  • - 01 cây kiếm dài 82cm, cán bằng gỗ hình tròn, lưỡi bằng kim loại;
  • - 01 cây dao phóng lợn bằng kim loại dài 3,3m;
  • - 01 cây dao phóng lợn bằng kim loại dài 2,9m;
  • - 01 đĩa CD-R chứa dữ liệu Video ghi nhận diễn biến hành vi phạm tội trong vụ án.

Đối với số hung khí còn lại trong vụ án các bị cáo và đối tượng liên quan đã vứt bỏ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được.

Đối với các phương tiện là xe mô tô, xe máy điện được các bị cáo và đối tượng liên quan sử dụng trong vụ án, quá trình điều tra xác định các bị cáo mượn của người quen biết để sử dụng làm phương tiện đi lại sau đó thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án, quá trình giải quyết vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được chủ sở hữu và không thu giữ được những phương tiện này.

Đối với Nguyễn Hồng Â, tại thời điểm xảy ra vụ án Ân dưới 16 tuổi; mặt khác trong vụ án  chỉ tham gia tụ tập tại khu vực tượng đài Q để chờ đánh nhau với nhóm Dương Văn H1 nhưng sự việc đánh nhau tại khu vực này không xảy ra. Sự việc rượt đuổi, đánh chém nhau sau đó giữa hai nhóm bị cáo tại khu vực ngã tư Đ- Đ thì  không tham gia nên không có cơ sở xác định vai trò đồng phạm của Nguyễn Hồng  với các bị cáo trong vụ án. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển Công an thành phố H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hồng  về hành vi trên.

Đối với nhóm đối tượng, gồm: Lê Quốc P2, Đinh Hoàng H12, Võ Lê Bảo K1, Phạm Nguyễn Bảo T14, có dấu hiệu đồng phạm với các bị cáo trong vụ án. Tuy nhiên, tại thời điểm xảy ra vụ án thì các đối tượng trên đều dưới 16 tuổi nên thuộc trường hợp chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển Công an thành phố H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên.

Tại bản cáo trạng số 141/CT-VKSTPH ngày 11/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố các bị cáo: Võ Trung, Dương Văn H1, Nguyễn Thế B, Trần Văn Q, Phan Văn Nhật H6, Phạm Đinh Phúc S1, Nguyễn Văn Quang H8, Đoàn Văn Bảo H7, Phạm Văn D2, Hoàng Nhật T4, Nguyễn Minh Đông Á, Đoàn Văn T3, Ngô Anh DDương Trung Gia H4 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s, t khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 54 của Bộ luật Hình sự (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo H4, bị cáo T3; áp dụng các Điều 90, 91, 101 đối với các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi; áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T4, bị cáo H4, bị cáo S1, bị cáo Phan Văn Nhật H6),

  • - Xử phạt bị cáo Võ T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Dương Văn H1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 03 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 02 năm 06 tháng tù của bản án hình sự phúc thẩm số 95/2023/HSPT ngày 10/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế buộc bị cáo B phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015.

  • - Xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Phan Văn Nhật H10 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Đinh Phúc S1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Quang H8 từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Bảo H7 từ 10 tháng đến 01 năm tù.
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Văn D2 từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Hoàng Nhật T4 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đông Á từ 01 năm tù đến 01 năm 02 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T3 từ 01 năm tù đến 01 năm 02 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Ngô Anh D 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Dương Trung Gia H4 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.

Xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Những người bào chữa cho các bị cáo đều có quan điểm là: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiển sát về tội danh và hình phạt đã truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội, xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như đặt điểm nhân thân của từng bị cáo và mà cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa. Do đó có cơ sở để kết luận:

[2.1]. Vào khoảng 22 giờ ngày 09/02/2023, tại khu vực giao nhau giữa đường Đ- đường Đ thuộc phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và khu vực lân cận là những khu vực đông dân cư, khu vực công cộng, do có mâu thuẫn từ trước nên hai nhóm bị cáo gồm: Võ T, Dương Văn H1, Nguyễn Thế B, Trần Văn Q, Phan Văn Nhật H6, Phạm Đinh Phúc S1, Nguyễn Văn Quang H8, Đoàn Văn Bảo H7, Phạm Văn D2, Hoàng Nhật T4, Nguyễn Minh Đông Á, Đoàn Văn T3, Ngô Anh D, Dương Trung Gia H4 đã hẹn nhau và sử dụng xe mô tô mang theo nhiều loại hung khí nguy hiểm như dao mèo, kiếm, dao phóng lợn, vỏ chai bằng thủy tinh... rượt đuổi đánh chém nhau trên đường, gây náo loạn trong khu vực, gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bất an trong quần chúng Nhân dân, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố các bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

Đây là vụ án có đồng phạm nên cần đánh giá đúng vai trò, tính chất của từng bị cáo để có hướng xử lý phù hợp:

Đối với bị cáo Võ T và bị cáo Dương Văn H1 là hai bị cáo đứng đầu hai nhóm, là người lên mạng thông báo thời gian, địa điểm để các bị cáo khác chuẩn bị hung khí để đi đánh nhau và trực tiếp cầm theo hung khí nên hai bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này.

Đối với bị cáo Nguyễn Thế B, Trần Văn Q, Phạm Văn Dương Nguyễn Minh Đông Á2, Ngô Anh D, Dương Trung Gia H4 là người ngồi sau xe mô tô cầm theo dao, kiếm đi trên các tuyến đường là rất nguy hiểm nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm sau bị cáo T và bị cáo H1.

Đối với bị cáo Phan Văn Nhật H6, Phạm Đinh Phúc S1, Nguyễn Văn Quang H8, Đoàn Văn Bảo H7, Hoàng Nhật T4, Đoàn Văn T3 là người điều khiển xe mô tô chở các bị cáo nêu trên ngồi sau, mang theo hung khí đuổi đánh nhau trên các tuyến đường nên đồng phạm với các bị cáo trên với vai trò là người giúp sức.

[2.2]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nhận thấy: Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi điều khiển xe mô tô chở người ngồi sau cầm theo dao, kiếm, vỏ chai bia chạy trên đường là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phá vỡ trạng thái bình yên, ổn định của xã hội; gây hoang mang, lo lắng trong quần chùng Nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý thích đáng, mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.

[2.3]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo T có nhân thân là ngày 08/6/2021, bị Tòa án thành phố H áp dụng biện pháp đưa vào trường G1 trong thời hạn 15 tháng. Bị cáo Dương Văn H1 nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, hiên đang có 03 tiền sự. Bị cáo Nguyễn Thế B nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành, hiện bị cáo đang thi hành hình phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Bị cáo Trần Văn Q có nhân thân là ngày 25/6/2023 bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền do đã có hành vi gây thương tích cho người khác. Bị cáo Nguyễn Văn Quang H8 có nhân thân là ngày 19/02/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra quyết định khởi tố bị can về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo Đoàn Văn Bảo H7 có nhân thân là ngày 18/4/2022 bị Công an thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo do đã có hành vi gây rối trật tự đường phố. Bị cáo Phạm Văn D2 có nhân thân là ngày 23/01/2021, bị Công an phường T, thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo do đã có hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Bị cáo Nguyễn Minh Đông Á2, ngày 21/01/2022 bị Công an thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo do đã có hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Bị cáo Đoàn Văn T3, có nhân thân là ngày 23/11/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra quyết định khởi tố bị can do đã có hành vi gây rối trật tự công cộng. Bị cáo Ngô Anh D có nhân thân là ngày 23/11/2023 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra quyết định khởi tố bị can về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Lần phạm tội này, các bị cáo phạm vào điểm b, khoản 2, Điều 318 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm là thuộc trường hợp nghiêm trọng nên các bị cáo không đảm bảo điều kiện để được hưởng án treo theo hướng dẫn tại điểm a, khoản 2, Điều 1 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về án treo nên cần xử cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; khi làm việc với Cơ quan điều tra các bị cáo đã tự nguyện cung cấp các thông tin về các bị khác cùng tham gia đánh nhau, từ đó giúp Cơ quan điều tra nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Dương Trung Gia H4 có ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước; bị cáo Đoàn Văn T3 có ông nội là ông Đoàn V1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng hạng Nhất nên bị cáo H4, bị cáo T3 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thế B hiện đang thi hành hình phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 95/2023/HSPT ngày 10/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (bản án đã có hiệu lực pháp luật). Nên cần tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của bản án hình sự phúc thẩm số số 95/2023/HSPT ngày 10/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế buộc bị cáo B phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015.

Các bị cáo: Võ Trung, Dương Văn H1, Nguyễn Thế B, Trần Văn Q, Phan Văn Nhật H6, Phạm Đình Phúc S4, Nguyễn Văn Quang H8, Đoàn Văn Bảo H7, Phạm Văn D2, Nguyễn Minh Đông Á2, Đoàn Văn T3, Dương Trung Gia H4 khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi nên được hưởng chính sách xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Chương XII của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo đều được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự nên các bị cáo đủ điều kiện để được áp dụng khoản 1, Điều 54 của Bộ luật Hình sự là quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Hoàng Nhật T4, bị cáo Dương Trung Gia H4, bị cáo Phan Văn Nhật H6 và bị cáo Phạm Đinh Phúc S1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo H4 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đảm bảo đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

[3]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

  • - 01 cây dao mèo dài 42cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, đã qua sử dụng;
  • - 01 cây dao tự chế dài 85cm, cán bằng kim loại bọc băng keo màu trắng; lưỡi bằng kim loại, đã qua sử dụng;
  • - 01 cây dao tự chế dài 80cm, cán bọc băng keo trong màu đen; lưỡi bằng kim loại, đã qua sử dụng;
  • - 01 cây kiếm dài 82cm, cán bằng gỗ hình tròn, lưỡi bằng kim loại, đã qua sử dụng.
  • - 01 cây dao phóng lợn (tự chế) bằng kim loại dài 3,3m, đã qua sử dụng.
  • - 01 cây dao phóng lợn (tự chế) bằng kim loại dài 2,90m, đã qua sử dụng.

Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD-R chứa dữ liệu Video ghi nhận diễn biến hành vi phạm tội trong vụ án;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo: V, Dương Văn H1, Nguyễn Thế B, Trần Văn Q, Phan Văn Nhật H6, Phạm Đinh Phúc S1, Nguyễn Văn Quang H8, Đoàn Văn Bảo H7, Phạm Văn D2, Hoàng Nhật T4, Nguyễn Minh Đông Á2, Đoàn Văn T3, Ngô Anh D, Dương Trung Gia H4 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s, t khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 54; Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự (áp dụng thêm khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T3, áp dụng thêm Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo B).

1. Xử phạt bị cáo Võ T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 15/12/2023.

2. Xử phạt bị cáo Dương Văn H1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 15/12/2023.

3. Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 01/02/2024.

4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Quang H8 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

5. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Bảo H7 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 15/12/2023.

6. Xử phạt bị cáo Phạm Văn D2 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 15/12/2023.

7. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đông Á2 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến ngày 29/3/2024.

8. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T3 10 (mười) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 15/12/2023.

9. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù của bản án này với hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” của bản án số 95/2023/HSPT ngày 10/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, buộc bị cáo Nguyễn Thế B phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2023.

- Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s, t khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

10. Xử phạt bị cáo Ngô Anh D 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 15/12/2023

- Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s, t khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự,

11. Xử phạt bị cáo Hoàng Nhật T4 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Hoàng Nhật T4 nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Hoàng Nhật T4 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, t khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 54; Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự (áp dụng thêm khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H4),

12. Xử phạt bị cáo Dương Trung Gia H4 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Dương Trung Gia H4 nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Dương Trung Gia H4 cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

13. Xử phạt bị cáo Phan Văn Nhật H10 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phan Văn Nhật H10 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

14. Xử phạt bị cáo Phạm Đinh Phúc S1 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Đinh P3 sang cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 cây dao mèo dài 42cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, đã qua sử dụng;
  • - 01 cây dao tự chế dài 85cm, cán bằng kim loại bọc băng keo màu trắng; lưỡi bằng kim loại, đã qua sử dụng;
  • - 01 cây dao tự chế dài 80cm, cán bọc băng keo trong màu đen; lưỡi bằng kim loại, đã qua sử dụng;
  • - 01 cây kiếm dài 82cm, cán bằng gỗ hình tròn, lưỡi bằng kim loại, đã qua sử dụng.
  • - 01 cây dao phóng lợn (tự chế) bằng kim loại dài 3,3m, đã qua sử dụng.
  • - 01 cây dao phóng lợn (tự chế) bằng kim loại dài 2,90m, đã qua sử dụng.

Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD-R chứa dữ liệu Video ghi nhận diễn biến hành vi phạm tội trong vụ án;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Bản án này là sơ thẩm, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Võ T, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thế B, người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn Q, người đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Trung Gia H4, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đoàn Văn T3; người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Đình Phúc S4; người bào chữa cho bị cáo Võ T, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thế B, người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Q, người bào chữa cho bị cáo Dương Trung Gia H4, người bào chữa cho bị cáo Đoàn Văn T3; người bào chữa cho bị cáo Phạm Đình Phúc S4 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT Huế;
  • - VKSND tỉnh TT Huế;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh TT Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TT Huế;
  • - VKSND Tp Huế;
  • - CQĐT Công an Tp Huế;
  • - CQ THAHS Công an Tp Huế;
  • - Nhà tạm giữ Công an Tp Huế;
  • - Chi Cục THADS Tp Huế;
  • - UBND các phường, xã có bị cáo được hưởng án treo;
  • - Các bị cáo;
  • - Người đại diện HP của các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HSVA, HCTP, Tòa HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Nhân Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 182/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Trung và đồng phạm -Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger