Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2023/HSST

Ngày: 05/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHỎ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Minh Quang.
  • - Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Hoàn;
  • 2. Ông Dương Văn Toàn;
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thùy - Kiểm sát viên.

Từ ngày 30/11/2023 đến ngày 05/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 159/2023/HSST ngày 20/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2023/QĐXXST-HS ngày 15/11/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đinh Anh H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1987

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Con ông Đinh Xuân H1 và bà Nguyễn Thị T; Có vợ là Nguyễn Thùy D (đã ly hôn); Vợ chồng có 01 con chung (sinh năm 2013).

Tiền án: (01) Ngày 05/5/2014, có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm 06 tháng tù tại Bản án số 05/2015/HSST ngày 14/01/2015.

Nhân thân: Ngày 28/01/2012, có hành vi “Cưỡng đoạt tài sản”, bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số 68/2012/HSST ngày 22/5/2012.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/02/2023, đến ngày 06/3/2023 chuyển

tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Họ và tên: Võ Thị Y; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1999;

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: thôn H, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nữ.

Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Con ông Võ Văn D1 và bà Vũ Thị H2; Có chồng là Lê Văn D2 (đã ly hôn); Vợ chồng có 01 con chung (sinh năm 2015).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/02/2023, đến ngày 06/3/2023 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

(Có mặt tại phiên tòa)

3. Họ và tên: Trần Thị N; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2004.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: thôn H, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không.

Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Con ông Trần Văn H3 và bà Hoàng Thị C; Chồng, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/02/2023, đến ngày 06/3/2023 chuyển tạm giam, hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)

4. Họ và tên: Bàn Thị D3; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2001.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: thôn K, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12.

Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Con ông Bàn Văn L và bà Nịnh Thị Đ; Có chồng là Phan Thế S; Vợ chồng có 01 con chung (sinh năm 2018).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/02/2023, đến ngày 06/3/2023 chuyển tạm giam, hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)

* Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Hồng N1; sinh năm 2006; (Vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: Xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

  3. Chị Quàng Thị V; sinh năm 2007; (Vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: Bản Na Pàn, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La.

  5. Chị Hoàng Hồng H4; sinh năm 2004; (Vắng mặt)
  6. Nơi cư trú: Tổ E, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

  7. Chị Vũ Thị Mỹ D4; sinh năm 2007; (Vắng mặt)
  8. Nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc

  9. Chị Đào Thị N2; sinh năm 2002; (Vắng mặt)
  10. Nơi cư trú: TDP Đ, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

  11. Anh Lê Quang T1; sinh năm 1989; (Vắng mặt)
  12. Nơi cư trú: Xóm 5, xã Tường Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An

  13. Anh Lê Thanh Q; sinh năm 1987; (Vắng mặt)
  14. Nơi cư trú: Tổ C, thôn X, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội

  15. Anh Vũ Đình V1; sinh năm 1985; (Vắng mặt)
  16. Nơi cư trú: K, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội

  17. Anh Ngô Đình Đ1; sinh năm 1974; (Vắng mặt)
  18. Nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội

  19. Anh Lang Văn H5; sinh năm 1994; (Vắng mặt)
  20. Nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An

  21. Chị Nguyễn Thị P; sinh năm 1991; (Vắng mặt)
  22. Nơi cư trú: TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên

  23. Anh Nguyễn Văn N3; sinh năm 1996; (Vắng mặt)
  24. Nơi cư trú: TDP D, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên

  25. Anh Lê Quốc P1; sinh năm 1991; (Vắng mặt)
  26. Nơi cư trú: TDP H, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên

  27. Anh Hoàng Văn N4; sinh năm 1995; (Vắng mặt)
  28. Nơi cư trú: TDP C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên

  29. Anh Phan Văn T2; sinh năm 1988; (Vắng mặt)
  30. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội

  31. Anh Đào Xuân C1; sinh năm 1980; (Vắng mặt)
  32. Nơi cư trú: Tổ 7, phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng

  33. Chị Trần Thị Thu N5; sinh năm 2004; (Vắng mặt)
  34. Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

  35. Chị Nguyễn Thu T3; sinh năm 2002; (Vắng mặt)
  36. Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh

  37. Chị Trần Thị T4; sinh năm 1996; (Vắng mặt)
  38. Nơi cư trú: Thôn Y, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội

  39. Anh Hoàng Văn H6; sinh năm 1997; (Vắng mặt)
  40. Nơi cư trú: TDP D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên

* Người chứng kiến:

  1. Anh Vũ Minh D5; sinh năm 1975; (Vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: TDP Thành Nam, phường Tân Hương, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

  3. Chị Nguyễn Thị C2; sinh năm 1978; (Vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 00 phút ngày 24/02/2023, tổ công tác Công an thành phố P phối hợp với Công an phường T, thành phố P tiến hành kiểm tra cơ sở kinh doanh karaoke P2 thuộc tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện tại phòng hát thứ hai bên phải hành lang của cơ sở kinh doanh karaoke P2 có 21 đối tượng (10 nam và 11 nữ) có biểu hiện tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: Đinh Anh H, Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3, Nguyễn Hồng N1 (sinh ngày 19/8/2006), Quàng Thị V (sinh ngày 09/01/2007), Hoàng Hồng H4, Đào Xuân C1, Trần Thị Thu N5, Đào Thị N2, Nguyễn Thu T3, Vũ Thị Mỹ D4 (sinh ngày 20/12/2007), Phan Văn T2, Hoàng Văn N4, Lê Quang T1, Ngô Đình Đ1, Trần Thị T4, Lê Quốc P1, Lang Văn H5, Vũ Đình V1, Lê Thanh Q.

Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện, thu giữ tại mặt bàn kê trong phòng: 01 (một) đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa cứng màu tím có chữ “T6”, bên dưới có dòng chữ số 9704235557418029; 01 (một) tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) được cuộn tròn thành ống hút; 03 (ba) bật lửa và 03 (ba) túi ni lông, bên trong mỗi túi đều bám dính chất bột màu trắng. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ 13 chiếc điện thoại di động các loại của các đối tượng (trong đó: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng tạm giữ của Bàn Thị D3 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen tạm giữ của Võ Thị Y). Sau đó, tổ công tác Công an thành phố P đã tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong các đồ vật thu giữ rồi chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo quy định.

Cơ quan điều tra đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của các đối tượng Nguyễn Hồng N1, Quàng Thị V2, Hoàng Hồng H4, Đào Xuân C1, Trần Thị Thu N5, Đào Thị N2, Nguyễn Thu T3, Vũ Thị Mỹ D4, Trần Thị N, Võ Thị Y, Phan Văn T2, Hoàng Văn N4, Bàn Thị D3, Lê Quang T1, Ngô Đình Đ1, Trần Thị T4,

Lê Quốc P1, Đinh Anh H, Lang Văn H5, Vũ Đình V1, Lê Thanh Q và niêm phong trong các phong bì ký hiệu lần lượt từ A1 đến A21 gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 453/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma tuý MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu A1, A2, A6, A8, A9, A14, A20, A21. Tìm thấy chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu A3, A10, A13, A15, A16, A19. Tìm thấy chất ma tuý MDMA trong mẫu nước tiểu ký hiệu A7. Không tìm thấy chất ma túy (MA, Ketamine, MDMA, Heroine) trong mẫu nước tiểu ký hiệu A4, A5, A11, A12, A17, A18.

Sau khi thu giữ vật chứng, Cơ quan điều tra đã cho 03 (ba) túi ni lông, bên trong mỗi túi đều bám dính chất bột màu trắng vào phong bì ký hiệu A và cho 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa cứng màu tím, trên thẻ có chữ T6, bên dưới có dòng chữ số 9704235557418029, 01 (một) tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn thành ống vào hộp niêm phong ký hiệu B rồi gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Bên trong 03 (ba) túi ni lông trong phong bì niêm phong ký hiệu A có chất ma tuý bám dính, loại Ketamine. Trên bề mặt 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa cứng màu tím, trên thẻ có chữ T6, bên dưới có dòng chữ số 9704235557418029 và 01 (một) tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn thành ống trong hộp niêm phong ký hiệu B có chất ma tuý bám dính, loại Ketamine.

Quá trình điều tra, Đinh Anh H, Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 24/02/2023, sau khi đi ăn đám cưới cùng Lê Thanh Q, Ngô Đình Đ1, Vũ Đình V1, Phan Văn T2, Đào Xuân C1 tại huyện S, thành phố Hà Nội; H rủ Q, Đ1, V1, T2, C1 đi hát karaoke ở thành phố P. Trước đó, H gọi điện cho Hoàng Văn H6 nhờ đặt giúp 01 (một) phòng hát tại quán K2, H6 đồng ý. Sau khi đặt được phòng hát, Hải báo lại cho H là đã đặt được phòng. Sau đó, Q, Đ1, V1, T2, C1 đi cùng nhau bằng xe taxi đến quán K2 còn H thuê xe taxi đến tổ dân phố G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đón Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 (là các nhân viên do H quản lý) đến quán K2 để hát. Khi H, Y, N, D3 đến phòng hát thì trong phòng có Lê Thanh Q, Ngô Đình Đ1, Vũ Đình V1, Phan Văn T2, Đào Xuân C1, Hoàng Văn N4, Lê Quang T1, Lang Văn H5, Đào Thị N2, sau đó có thêm Lê Quốc P1, Vũ Thị Mỹ D4, Nguyễn Hồng N1, Quàng Thị V, Hoàng Hồng H4, Trần Thị Thu N5, Trần Thị T4, Nguyễn Thu T3 vào phòng hát. Sau khi hát karaoke cùng mọi người được khoảng 30 phút, H5 lấy từ trong túi quần đang mặc ra 04 (bốn) viên nén hình tròn dẹt, màu hồng là ma túy loại “Kẹo” rồi H5 đưa cho Q 01 (một) viên, đưa cho Y, N2, Đ1, N1, V1 mỗi người 1/2 viên và bảo mọi người là “Chơi đi”, Y

cầm viên ma túy H5 đưa cho rồi Y đưa lại cho Bàn Thị D3, số ma túy “Kẹo” còn lại H5 tiếp tục đưa cho mọi người trong phòng để sử dụng. Q, N2, Đ1, N1, V1, Bàn Thị D3 sử dụng ma túy loại “Kẹo” bằng cách uống cùng nước ngọt. Sau đó, H5 tiếp tục vừa nhảy vừa nghe nhạc. Khoảng 10 phút sau, H5 lấy từ trong túi quần đang mặc ra đưa cho N 01 (một) gói ma túy loại “Ke” và bảo với N “Em ơi này” (ý là bảo Nữ xào “Ke” cho mọi người cùng sử dụng). Lúc này, Y ra ngoài lấy 01 (một) đĩa sứ từ nhân viên quán hát rồi Y mang đĩa vào nhà vệ sinh, dùng bật lửa đốt giấy lau để hơ nóng đĩa và mang đĩa vào phòng hát đưa cho N. Nữ cầm vào đĩa thì thấy nhiệt độ chưa đủ nóng nên N lấy giấy lau có sẵn trên bàn rồi dùng bật lửa đốt cháy giấy lau và hơ đĩa trên ngọn lửa. Khi thấy đĩa đã đủ độ nóng, N đặt đĩa lên bàn rồi đổ gói ma túy “Ke” ra đĩa và dùng thẻ nhựa có sẵn trên bàn nghiền nhỏ ma túy trên đĩa, trong quá trình Nữ xào “Ke” do ánh sáng trong phòng hát không đủ sáng nên Y đã bật đèn ở điện thoại của Y để chiếu sáng cho N xào “Ke”. Sau khi xào ma túy xong, N kẻ 03 (ba) đường “Ke” rồi dùng ống hút được cuộn từ tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng hít trực tiếp ma túy vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, N kẻ ma túy thành từng đường rồi bê đĩa ma túy cho mọi người trong phòng cùng sử dụng. Khoảng 20 phút sau, H5 tiếp tục lấy từ trong túi quần đang mặc ra đưa cho Bàn Thị D3 01 (một) gói ma túy loại “Ke” và bảo D3 tiếp tục xào “Ke” để cho mọi người sử dụng. D3 lấy giấy lau có sẵn trên bàn đốt cháy rồi hơ nóng đĩa trên ngọn lửa, sau đó D3 để đĩa trên bàn và đổ ma túy ra đĩa, D3 dùng thẻ nhựa nghiền nhỏ ma túy ra rồi kẻ ma túy thành hai đường nhỏ và đưa cho mọi người trong phòng sử dụng bằng cách dùng ống hút hít ma túy vào trong cơ thể. Sau khi một số người trong phòng sử dụng hết hai đường ma túy, D3 đặt đĩa ma túy xuống mặt bàn để cho mọi người cùng sử dụng. Các đối tượng ở trong phòng hát và sử dụng ma túy đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an thành phố P đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng, 01 (một) thẻ ATM có chữ “T6”, bên dưới có dòng chữ số 9704235557418029, 01 (một) tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) được cuộn tròn thành ống hút, niêm phong trong túi ký hiệu B; 03 (ba) bật lửa niêm phong trong phong bì ký hiệu C; 03 (ba) túi ni lông còn lại sau giám định và vỏ bao gói, niêm phong trong phong bì ký hiệu C; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng, lắp sim số 0377.222.031 tạm giữ của Bàn Thị D3, niêm phong trong phong bì ký hiệu N1; 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, lắp sim số 0377.089.564 tạm giữ của Võ Thị Y, niêm phong trong phong bì ký hiệu E15. Toàn bộ số vật chứng nêu trên được chuyển

đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám, lắp sim số 0879.697.555, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lê Quốc P1 quản lý, sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu xanh, lắp sim số 0986.814.421, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Hoàng Hồng H4 quản lý, sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, lắp sim số 0379.512.744, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Hồng N1 quản lý, sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, lắp sim số 0878.092.278, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Vũ Thị Mỹ D4 quản lý, sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, lắp sim số 0985.406.116 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, lắp sim số 0373.906.800, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lê Quang T1 quản lý, sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, lắp sim số 0971.633.814, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Phan Văn T2 quản lý, sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng, lắp sim số 0964.841.660, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Đào Thị N2 quản lý, sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu vàng, lắp sim số 0963.136.725, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Thu T3 quản lý, sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu trắng, lắp sim số 0348.623.889, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Vũ Đình V1 quản lý, sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K, màu đen, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lang Văn H5 quản lý, sử dụng.

Với nội dung nêu trên, tại bản cáo trạng số 1 71/CT-VKSPY ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Đinh Anh H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, c, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Đinh Anh H, Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b, c, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Anh H từ 09 năm đến 10 năm tù.
  • + Áp dụng Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Thị Y từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
  • + Áp dụng Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
  • + Áp dụng Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Thị D3 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
  • + Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • + Về xử lý vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng, 01 (một) thẻ ATM có chữ “T6”, bên dưới có dòng chữ số 9704235557418029, 03 (ba) bật lửa niêm phong trong phong bì ký hiệu C; 03 (ba) túi ni lông còn lại sau giám định và vỏ bao gói, niêm phong trong phong bì ký hiệu C;
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) được cuộn tròn thành ống hút, niêm phong trong túi ký hiệu B; 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, lắp sim số 0377.089.564 của Võ Thị Y, niêm phong trong phong bì ký hiệu E15; Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng, lắp sim số 0377.222.031 của Bàn Thị D3, niêm phong trong phong bì ký hiệu N1;
  • Về án phí buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đinh Anh H, Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 đều thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội, nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Nói lời sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà những

người làm chứng là chị Nguyễn Hồng N1, chị Quàng Thị V, chị Hoàng Hồng H4, chị Vũ Thị Mỹ D4, chị Đào Thị N2, anh Lê Quang T1, anh Lê Thanh Q, anh Vũ Đình V1, anh Ngô Đình Đ1, anh Lang Văn H5, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn N3, anh Lê Quốc P1, anh Hoàng Văn N4, anh Phan Văn T2, anh Đào Xuân C1, chị Trần Thị Thu N5, chị Nguyễn Thu T3, chị Trần Thị T4, anh Hoàng Văn H6 vắng mặt. Xét thấy những người có tên trên đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có tên trên theo quy định.

[3] Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo Đinh Anh H, Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 00 phút đến 22 giờ 00 phút ngày 24/02/2023, tại phòng hát thứ hai bên phải hành lang của cơ sở kinh doanh karaoke P2 thuộc tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Đinh Anh H, Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 đã có hành vi tổ chức sử dụng chất ma túy loại “Kẹo” (là ma túy tổng hợp MDMA) và ma túy loại “Ke” (là K) cho mọi người trong phòng. Trong đó: H đưa cho Q 01 (một) viên ma túy loại “Kẹo”; đưa cho Y, N2, Đ1, N1, V1 mỗi người 1/2 viên, Y cầm 1/2 viên ma túy H đưa cho rồi Y đưa lại cho Bàn Thị D3. Q, N2, Đ1, N1, V1, Bàn Thị D3 sử dụng ma túy loại “Kẹo” bằng cách uống cùng nước ngọt. H đưa cho N và Bàn Thị D3 mỗi người 01 (túi) ma túy loại “Ke”, N và Bàn Thị D3 đã có hành vi xào “Ke” để mọi người sử dụng, Y đã có hành vi hơ nóng đĩa, soi đèn điện thoại cho N xào “Ke”. Trong số những người sử dụng ma túy có Vũ Thị Mỹ D4 (sinh ngày 20/12/2007), Nguyễn Hồng N1 (sinh ngày 19/8/2006) và Quàng Thị V (sinh ngày 09/01/2007) đều trên 13 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi. Các đối tượng sử dụng ma túy đến 22 giờ ngày 24/02/2023 thì bị tổ công tác Công an thành phố P phát hiện, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Đinh Anh H, Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với các tình tiết định khung tăng nặng “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Đinh Anh H năm 2015 đã bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/7/2020 nên chưa được xóa án tích, do

vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu thêm 01 tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:...

  • Đối với 02 người trở lên;
  • Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;
  • Tái phạm nguy hiểm...”

[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thấy rằng:

Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma tuý mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người. Đồng thời đây còn là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ mục đích do muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho bản thân và bạn bè nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm, nhưng không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau từ trước, nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này, bị cáo Đinh Anh H là người khởi xướng, cung cấp chất ma túy để tổ chức sử dụng trái phép. Các bị cáo Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 đều tham gia với vai trò là người giúp sức cho bị cáo H trong việc tổ chức sử dụng trái phép ma túy. Đây là các yếu tố cần xem xét khi quyết định hình phạt.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, cả 04 (bốn) bị cáo Đinh Anh H, Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 đều thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đinh Anh H có mẹ đẻ được huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba, huân chương chiến công hạng ba, huy chương quân kỳ quyết thắng, do vậy, HĐXX cho bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2

Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này, các bị cáo cũng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Xem xét về nhân thân các bị cáo, HĐXX thấy rằng:

  • - Bị cáo Đinh Anh H là đối tượng có nhân thân rất xấu. Năm 2012, bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản”. Tiếp tục đến năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/7/2020 được trở về địa phương song bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân, mà lại tiếp tục thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Bản thân bị cáo có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma tuý và những quy định chặt chẽ của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma tuý. Nhưng vì mục đích ích kỷ của bản thân nhằm thỏa mãn cơn nghiện và thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho bạn bè, bị cáo đã bất chấp hậu quả để thực hiện hành vi phạm tội. Điều này cho thấy bị cáo là người rất coi thường pháp luật, khó giáo dục cải tạo nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt.
  • - Đối với các bị cáo Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều tỏ thái độ ăn năn về hành vi của mình nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, nhưng cũng cần phải đủ để đảm bảo giáo dục các bị cáo thành công dân tốt.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều là lao động tự do, không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả 04 (bốn) bị cáo.

[8] Xử lý vật chứng: Đối với chiếc đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng, 01 (một) thẻ ATM có chữ “T6”, bên dưới có dòng chữ số 9704235557418029, 03 (ba) bật lửa niêm phong trong phong bì ký hiệu C; 03 (ba) túi ni lông còn lại sau giám định và vỏ bao gói, niêm phong trong phong bì ký hiệu C cần tịch thu tiêu huỷ;

Đối với tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) được cuộn tròn thành ống hút, niêm phong trong túi ký hiệu B; chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, lắp sim số 0377.089.564 của Võ Thị Y, niêm phong trong phong bì ký hiệu E15 là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng, lắp sim số

0377.222.031 của Bàn Thị D3, niêm phong trong phong bì ký hiệu N1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên được trả lại cho bị cáo

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Các vấn đề khác:

  • - Về nguồn gốc số ma tuý, theo H khai H nhặt được tại trước quán K3 tại phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ đề nghị xử lý theo quy định.
  • - Đối với Lê Thanh Q, Ngô Đình Đ1, Vũ Đình V1, Lê Quang T1, Lang Văn H5, Đào Thị N2, Vũ Thị Mỹ D4, Nguyễn Hồng N1, Quảng Thị V2, Hoàng Hồng H4 có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Cơ điều tra sẽ chuyển hồ sơ đến Cơ quan Công an thành phố P để xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên theo quy định.
  • - Đối với Lê Quốc P1, Hoàng Văn N4, Phan Văn T2, Đào Xuân C1, Trần Thị Thu N5 không có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không có hành vi đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với các bị can nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với các đối tượng trên là phù hợp.
  • - Đối với Nguyễn Thu T3 qua giám định có kết quả dương tính với ma túy loại MDMA, Trần Thị T4 qua giám định có kết quả dương tính với ma túy loại Ketamine, tuy nhiên tài liệu trong hồ sơ chưa đủ căn cứ để xác định T3 và T4 có hành vi sử dụng chất ma túy trong vụ án này. Việc T3 và T4 sử dụng ma túy ở đâu, cùng với ai Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
  • - Đối với Hoàng Văn H6 là người đặt phòng hát tại cơ sở kinh doanh karaoke Phượng Trang giúp bị can H5 và có tham gia hát cùng mọi người, tuy nhiên đến thời điểm bị Cơ quan Công an phát hiện H6 không có mặt tại phòng hát. Quá trình điều tra xác định H6 không có hành vi sử dụng ma túy, không đồng phạm với các bị can về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, do vậy không có căn cứ để xử lý H6.
  • - Đối với người tên là Đ2 theo Nguyễn Hồng N1, Quàng Thị V, Hoàng Hồng H4, Trần Thị Thu N5 khai là quản lý của N1, V, H4, N5, ngày 24/02/2023 Đ2 bảo N1, V, H4, N5 đến quán K2 để phục vụ khách hát. Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của người tên là Đ2. Do vậy sẽ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau.
  • - Đối với người tên là L1 theo Vũ Thị Mỹ D4 khai là quản lý của D4, ngày 24/02/2023 L1 bảo D4 đến quán K2 để phục vụ khách. Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của người tên là L1. Do vậy sẽ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau.
  • - Trong vụ án này còn có chị Nguyễn Thị P (sinh năm 1991; trú tại tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) là chủ quán karaoke Phượng T5 và anh Nguyễn Văn N3 (sinh năm 1996; trú tại tổ dân phố D, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) là người được thuê đón khách và dọn dẹp quán. Việc các đối tượng sử dụng ma tuý tại cơ sở kinh doanh karaoke của chị P, chị P và anh N3 đều không biết. Ngoài ra quá trình điều tra chưa đủ căn cứ xác định anh Nghĩa là người cung cấp đĩa sứ cho các đối tượng chế biến ma túy để sử dụng nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh N3. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Cơ quan Công an thành phố P để xử phạt vi phạm hành chính đối với P theo quy định.
  • [11] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đinh Anh H, Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

1. Về hình phạt:

  • - Áp dụng Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b, c, h khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Đinh Anh H 9 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 25/02/2023.
  • Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo H 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
  • - Áp dụng Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b, c khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Võ Thị Y 7 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 25/02/2023.
  • Áp dụng Điều 329 Bộ luật tốhình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Y 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
  • - Áp dụng Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b, c khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Trần Thị N 7 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 25/02/2023.
  • Áp dụng Điều 329 Bộ luật tốhình sự: Quyết định tạm giam bị cáo N 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
  • - Áp dụng Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b, c khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Bàn Thị D3 7 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị

tạm giữ, tạm giam 25/02/2023.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tốhình sự: Quyết định tạm giam bị cáo D3 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự;

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng;
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thẻ ATM có chữ “T6”, bên dưới có dòng chữ số 9704235557418029;
  • - Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) bật lửa niêm phong trong phong bì ký hiệu C; 03 (ba) túi ni lông còn lại sau giám định và vỏ bao gói, niêm phong trong phong bì ký hiệu C;
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) được cuộn tròn thành ống hút, niêm phong trong túi ký hiệu B;
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, lắp sim số 0377.089.564 của Võ Thị Y, niêm phong trong phong bì ký hiệu E15;
  • - Trả lại cho bị cáo Bàn Thị D3 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng, lắp sim số 0377.222.031, niêm phong trong phong bì ký hiệu N1;

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 129/QĐ-VKSPY ngày 05/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cùng biên bản giao nhận vật chứng, giấy ủy nhiệm chi kèm theo)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đinh Anh H, Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST sung quỹ nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo Đinh Anh H, Võ Thị Y, Trần Thị N, Bàn Thị D3 biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Phổ Yên;
  • - Công an TP. Phổ Yên;
  • - Chi cục Thi hành án TP. Phổ Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Minh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2023/HSST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 182/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Anh Hùng và đồng phạm bị xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger