Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 182/2024/HS-ST

Ngày: 05-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Thắm;

2/ Bà Nguyễn Kim Lý.

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 162/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thanh N, sinh năm 1986, tại tỉnh Quảng Bình; HKTT: Tổ dân phố M, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; tạm trú: Khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hùng Â, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; bị cáo có vợ tên Vũ Thị H, sinh năm 1985; bị cáo có 03 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2024 cho đến nay. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm 1968, tại tỉnh Bình Dương; HKTT: Khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh nă, 1933 (đã chết) và bà Phan Thị T, sinh năm 1982 (đã chết); bị cáo có vợ tên Trần Thị H1, sinh năm 1982; bị cáo có 04 con (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2024 cho đến nay. Có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Quốc V, sinh năm 1986, tại tỉnh Khánh Hòa; HKTT: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; tạm trú: Khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước C, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1963; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1990; bị cáo có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2024 cho đến nay. Có mặt.

– Bị hại: Công ty Cổ phần T2 (Công ty S), địa chỉ: Số A Đ, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Việt H2, sinh năm 1983; trú tại: Tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, là người đại diện theo uỷ quyền (theo Giấy ủy quyền ngày 22/11/2023). Yêu cầu xét xử vắng mặt.

– Người làm chứng: Ông Phạm Quốc T1. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thanh N làm công nhân tại Chi nhánh Công ty cổ phần T2 tại Bình Dương, địa chỉ: ấp (nay là khu phố ), xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Nguyễn Thanh N và bị cáo Nguyễn Văn D có mối quan hệ quen biết với nhau.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/11/2023, bị cáo N tan ca làm về thì gặp bị cáo D đang cắt cỏ ở bãi cỏ phía sau Chi nhánh Công ty cổ phần T2. Lúc này, bị cáo N rủ bị cáo D lấy trộm bao phân bón của Công ty T2 đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì bị cáo D đồng ý. Bị cáo N và bị cáo D thỏa thuận lấy trộm 13 bao phân bón trọng lượng 50 kg và 01 bao trọng lượng 25 kg, đem bán 13 bao còn 01 bao trọng lượng 25 kg thì bị cáo D sử dụng để bón cây.

Đến ngày 20/11/2023, bị cáo D gặp ông Phạm Quốc T1 (sinh năm 1970, hộ khẩu thường trú: Ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương) nói bị cáo D có một số bao phân bón cây mua sử dụng còn dư, hỏi ông T1 mua bón cây không thì ông T1 nói sẽ gọi lại sau. Đến khoảng 18 giờ ngày 20/11/2023, ông T1 gọi điện thoại cho bị cáo D hỏi mua 12 bao phân thì bị cáo D nói bán 13 bao phân với giá 300.000 đồng mỗi bao thì ông T1 đồng ý mua và nói bị cáo D chở đến nhà của ông T1.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/11/2023, bị cáo D sử dụng điện thoại di động hiệu Masstel Izi20, màu đen có gắn sim số 0846133539 gọi điện thoại nói bị cáo N lấy trộm phân đem bán cho ông T1. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo N lén lút vào kho của Công ty T2 lấy trộm được 13 bao phân bón loại NPK 12-9-6 chưa thành phẩm, trọng lượng 50 kg và 01 bao phân bón loại NPK thành phẩm có mã bao 16-12- 8+TE, trọng lượng 25 kg, vác lần lượt đến khu vực bờ kênh, cạnh đường A 018 cách kho của Công ty T2 khoảng 100m rồi lấy cỏ che lại để tránh bị phát hiện. Sau đó, bị cáo N đi về nhà rồi sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung A23S gắn sim 0983069697 của mình gọi điện thoại nói bị cáo D đến lấy các bao phân bón đem đi bán. Lúc này, bị cáo D sử dụng điện thoại di động hiệu Masstel Izi20 gọi điện thoại thuê bị cáo Nguyễn Quốc V làm nghề chở hàng thuê đến đường đất cạnh Công ty T2 chở hàng sẽ được tiền công 200.000 đồng thì bị cáo V đồng ý.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bị cáo V điều khiển xe ba bánh gắn biển số 61P2 - 3205 đến khu vực bờ kênh theo sự chỉ dẫn của bị cáo D thì nhìn thấy các bao phân được giấu dưới lớp cỏ bên cạnh bờ kênh, gần đó là Công ty T2 sản xuất phân bón, xung quanh vắng người. Lúc này, bị cáo V nhận thức được các bao phân bón này do bị cáo D lấy trộm từ Công ty T2 đem ra nhưng vẫn đồng ý chở đi với suy nghĩ sẽ được bị cáo D cho thêm tiền, ngoài tiền công chở thuê. Sau đó, bị cáo V đã cùng bị cáo D vác và xếp 13 bao phân bón lên xe (còn sót lại 01 bao phân bón loại NPK 12-9-6 chưa thành phẩm). Sau đó, bị cáo D điều khiển xe mô tô hiệu FAVOUR màu đen biển số 61Z4-2856 chạy trước dẫn đường cho bị cáo V điều khiển xe ba bánh chở các bao phân bón đi bán cho ông T1. Khi đi ngang qua nhà của bị cáo D thuộc khu phố R, phường A, thanh phố B, tỉnh Bình Dương thì bị cáo D có lấy bao phân bón NPK đã thành phẩm có mã bao 16-12-8+TE trọng lượng 25 kg đem vào nhà cất giấu để sử dụng, rồi đi ra tiếp tục dẫn đường cho bị cáo V chở 12 bao phân bón đi bán cho ông T1. Khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo D và bị cáo V đi đến đoạn đường ĐT744 thuộc khu phố R, phường A, thành phố B thì bị lực lượng Công an xã (nay là phường) An Tây tuần tra phát hiện, mời đến trụ sở Công an phường A làm việc.

Đến khoảng 21 giờ ngày 21/11/2023, ông Nguyễn Việt H2 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T2 đến Công an phường A trình báo bị mất trộm tài sản. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) B giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

  • - 13 bao phân bón loại NPK 12-9-6 chưa thành phẩm là nguyên liệu dùng để sản xuất phân bón loại NPK 16-12-8+TE;
  • - 01 bao phân bón loại NPK đã thành phẩm có mã bao là 16-12-8+TE;
  • - 01 xe mô tô hiệu FAVOUR biển số: 61Z4-2856 và 01 điện thoại di động hiệu Masstel Izi20 màu đen, gắn sim số 0846133539 của bị cáo Nguyễn Văn D;
  • - 01 xe ba bánh có số máy: LX163MLSC060112 gắn biển số: 61P2 – 3205 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A74 màu xanh, gắn sim số 0979009478 của bị cáo Nguyễn Quốc V;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung A23S màu đen, gắn sim số 0983069697 của bị cáo Nguyễn Thanh N.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, các bị cáo N, DV đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo N, DV phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Theo Kết luận định giá tài sản số 157/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:

  • - 13 bao phân bón loại NPK 12-9-6 chưa thành phẩm là nguyên liệu dùng để sản xuất phân bón loại NPK 16-12-8+TE, trị giá là 7.319.000 đồng.
  • - 01 bao phân bón loại NPK đã thành phẩm có mã bao là 16-12-8+TE, trị giá là 361.000 đồng.

Tổng trị giá: 7.680.000 đồng.

* Quá trình điều tra xác định, xe mô tô hiệu FAVOUR biển số: 61Z4-2856 do ông Nguyễn Minh C1 (sinh năm: Không rõ, HKTT: 196/1 khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương) đứng tên đăng ký. Bị cáo D mua lại xe của ông ông Nguyễn Minh C1 để sử dụng nhưng không làm giấy tờ mua bán. Hiện Nguyễn Minh C1 đã chết.

* Quá trình điều tra xác định, xe ba bánh biển số: 61P2 – 3205, qua kết quả tra cứu biển số là của xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số: 61P2 – 3205 do ông Trương Thanh L1 (sinh năm: 1989, HKTT: ấp X, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương) đứng tên đăng ký. Năm 2014, ông Trương Thanh L1 đã bị mất trộm xe. Khoảng tháng 5/2022, bị cáo V mua xe ba bánh biển số: 61P2 – 3205 với giá 25.000.000 đồng của người không rõ lai lịch.

Theo Kết luận giám định số 2168/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Số và Cảnh sát hiệu trên biển số 61P2 – 3205 với số và Cảnh sát hiệu trên 02 biển số mẫu so sánh, không phải do cùng một khuôn dập tạo ra.

Về xử lý vật chứng: Ngày 25/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý vật chứng, giao trả: 13 bao phân bón loại NPK 12-9-6 chưa thành phẩm là nguyên liệu dùng để sản xuất phân bón loại NPK 16-12-8+TE và 01 bao phân bón loại NPK đã thành phẩm có mã bao là 16-12-8+TE cho ông Nguyễn Việt H2 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T2.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Việt H2 là người đại diện theo ủy quyền của bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo N, DV bồi thường.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo như Cáo trạng số 168/CT-VKS-BC ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh NNguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử:

– Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng.

– Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng.

– Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng.

Đối với ông Phạm Quốc T1, do không biết bị cáo Nguyễn Văn D bán phân bón do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông T1 là có căn cứ.

– Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

+ Ngày 25/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý vật chứng, giao trả: 13 bao phân bón loại NPK 12-9-6 chưa thành phẩm là nguyên liệu dùng để sản xuất phân bón loại NPK 16-12-8+TE và 01 bao phân bón loại NPK đã thành phẩm có mã bao là 16-12-8+TE cho ông Nguyễn Việt H2 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T2 là phù hợp.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu FAVOUR biển số: 61Z4-2856; 01 xe ba bánh, số máy: LX163MLSC060112; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A74 màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A23S màu đen, và 01 điện thoại di động hiệu Masstel Izi20 màu đen.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 61P2-3205; 01 sim số 0979009478; 01 sim số 0983069697; 01 sim số 0846133539;

– Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Việt H2 không yêu cầu các bị cáo N, DV bồi thường thêm nên không đề cập xử lý.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 168/CT-VKS-BC ngày 20/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố B, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đã hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Theo đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, đại diện theo ủy quyền của bị hại (ông H2) trình bày: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản là các bao phân bó bị mất trộm. Bị hại đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và bị hại không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm trong vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của bị hại để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Theo đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, người làm chứng (ông T1) trình bày: Ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, lời khai bị hại, người làm chứng và cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/11/2023, bị cáo Nguyễn Thanh N có hành vi rủ bị cáo Nguyễn Văn D lấy trộm bao phân của Công ty cổ phần T2 đem bán lấy tiền tiêu xài thì bị cáo D đồng ý. Thực hiện ý định, khoảng 19 giờ ngày 21/11/2023, tại Chi nhánh Công ty cổ phần T2 tại Bình Dương thuộc khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Thanh N có hành vi lén lút lấy trộm 14 bao phân bón loại NPK, trị giá 7.680.000 đồng của Công ty cổ phần T2. Sau đó, bị báo D gọi điện thoại thuê bị cáo Nguyễn Quốc V đến chở các bao phân bón đem bán cho Phạm Quốc T1. Bị cáo V không hứa hẹn từ trước nhưng biết các bao phân bón này là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý chở cho bị cáo D. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, trên đường bị cáo V chở các bao phân đem đi bán thì bị lực lượng Công an phường A tuần tra phát hiện. Hành vi trên của các bị cáo Nguyễn Thanh NNguyễn Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Quốc V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tôi mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 168/CT- VKS-BC ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh NNguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp người khác, xâm phạm đến trật tự công cộng. Trong vụ án trộm cắp tài sản bị cáo N và bị cáo D là đồng phạm. Các bị cáo do lười biếng, muốn có tiền để tiêu xài cho cá nhân mà không phải lao động nên đã thực hiện tội phạm. Đối với bị cáo V tuy không bàn bạc trước, nhưng bị cáo biết đây là tài sản do phạm tội mà có nhưng giúp bị cáo D vận chuyển phân bón đi tiêu thụ. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình. Hành vi của các bị cáo nêu trên là nguy hiểm đối với xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần thiết phải xử lý các bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như:

[4.1] Bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi giao trả cho bị hại; người đại diện theo ủy quyền của bị hại có đơn xin bãi nại. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Các bị cáo Nguyễn Văn DNguyễn Quốc V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là lao động chính trong gia đình; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi giao trả cho bị hại; người đại diện theo ủy quyền của bị hại có đơn xin bãi nại. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[6] Về nhân thân: Trước thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có nhân thân xấu tốt.

[7] Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Đối với hành vi trộm cắp tài sản có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, trong đó bị cáo N có vai trò cao hơn bị cáo D. Bị cáo Nghĩa là người khởi xướng, rủ rê bị cáo D cùng thực hiện hành vi phạm tội và là người trực tiếp lấy trộm tài sản của bị hại, do đó bị cáo N phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo D, bị cáo D giữ vai trò giúp sức cho bị cáo N.

[8] Đối với ông Phạm Quốc T1: Ngày 20/11/2023, ông T1 là người đồng ý mua phân bón của bị cáo D nhưng không biết phân bón là tài sản do bị cáo trộm cắp. Vì vậy chưa đủ yếu tố cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[9] Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm về an ninh trật tự, an toàn xã hội, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo và xử phạt mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để đảm bảo sự nghiêm minh cũng như sự khoan hồng của pháp luật và có tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có nhân thân tốt; tại địa phương các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; các bị cáo có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục; các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên việc cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết. Xét thấy, các bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên cho các bị cáo hưởng án treo là phù hợp với quy định pháp luật.

[10] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[11] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

[11.1] Ngày 25/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, giao trả: 13 bao phân bón loại NPK 12-9-6 chưa thành phẩm là nguyên liệu dùng để sản xuất phân bón loại NPK 16-12-8+TE và 01 bao phân bón loại NPK đã thành phẩm có mã bao là 16-12-8+TE cho ông Nguyễn Việt H2 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T2 là phù hợp.

[11.2] Đối với 01 xe mô tô hiệu FAVOUR biển số: 61Z4-2856, số máy VTT1P52FMHZ028058, số khung RRKWCH4UMAX028058. Xét, bị cáo D sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách.

[11.3] Đối với 01 xe ba bánh có số máy: LX163MLSC060112. Xét, đây là phương tiện bị cáo V dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách.

[11.4] Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A74 màu xanh có gắn sim số 0979009478 của bị cáo V. Xét, đây là tài sản cá nhân của bị cáo và phương tiện bị cáo không dùng trực tiếp vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo;

[11.5] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A23S màu đen của bị cáo N. Xét, đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

[11.6] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Masstel Izi20 màu đen của bị cáo D. Xét, đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

[11.7] Đối với 01 biển số 61P2-3205. Xét đây, là bản số giả không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

[11.8] Đối với 01 sim số 0846133539 của bị cáo D; 01 sim số 0983069697 của bị cáo N. Xét, đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[12] Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[13] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[14] Án phí hình sự: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 323; Điều 17; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N và bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 07 (bảy) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Nguyễn Thanh N, Nguyễn Văn DNguyễn Quốc V cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • + 01 (một) xe mô tô hiệu FAVOUR biển số: 61Z4-2856, số máy VTT1P52FMHZ028058, số khung RRKWCH4UMAX028058 (xe không gương, không khóa, xe rỉ sét, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);
  • + 01 (một) xe ba bánh có số máy: LX163MLSC060112, không kiểm tra được số khung (xe đã qua sử dụng, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A23S màu đen (không kiểm tra được Model, số IMEI1: 351084830959085; MEI 2: 351677550959084, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel Izi20 màu đen (Pin bị phồng, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số 61P2-3205; 01 (một) sim số 0983069697 (không kiểm tra được số seri); 01 (một) sim số 0846133539 (không kiểm tra được số seri);

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc V: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A74 màu xanh (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) và 01 (một) sim số 0979009478 (không kiểm tra được số seri);

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh N, Nguyễn Văn DNguyễn Quốc V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo:

- Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/8/2024).

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - CC THA thành phố Bến Cát;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân phường An Tây, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

VVăn Quang Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 182/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh N + ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger