|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 182/2024/HS-ST Ngày 04-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Khắc Tân
- Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh, Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 9 năm 2024 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 154/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 726/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lường Văn Đ, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2000 tại Điện Biên. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản C, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; nơi ở hiện nay: Xóm H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn S và bà Cà Thị K; có vợ là Lường Thị Q, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 15/4/2024, tạm giam ngày 22/4/2024; có mặt.
2. Lò Văn T, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1993 tại Điện Biên. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Xẻ, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi ở hiện nay: Xóm H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T1 và bà Lò Thị T2; có vợ là Lường Thị B, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 15/4/2024, tạm giam ngày 22/4/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/4/2024, Công an phường Đ, quận L làm nhiệm vụ tại khu vực ngõ B Chợ Hàng phát hiện Lường Văn Đ đang điều khiển xe môtô biển kiểm soát 27B1 – 838.65 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Khi thấy tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra, Đức thả từ tay trái xuống đất 01 gói giấy màu trắng, kích thước khoảng 1,5 x 0,5cm bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục (nghi là ma túy), cách vị trí chân trái của Đ khoảng 10cm. Tổ công tác đã thu giữ gói giấy, dẫn giải Đ cùng toàn bộ vật chứng về Công an phường Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Đ khai đi mua ma túy hộ Lò Văn T để về cùng sử dụng. Ngoài ra, còn thu giữ của Đ 01 xe môtô biển kiểm soát 27B1-838.65; 01 ví màu nâu bên trong có 01 giấy phép lái xe mang tên Lường Văn Đ.
Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy
Bản kết luận giám định số 470/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,18 gam, loại Heroine.
Lường Văn Đ và Lò Văn T cùng khai: Khoảng hơn 12 giờ ngày 15/4/2024, Lường Văn Đ đang điều khiển xe môtô biển kiểm soát: 27B1-838.65 trên đường X, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng thì gặp Lò Văn T (là bạn cùng quê) đang đi bộ cùng đường. Đ dừng xe hỏi Tước “có Heroine không”, T trả lời “ không có”, sau đó T hỏi Đ có chỗ nào mua không và đưa cho Đ số tiền 192.000 đồng nhờ Đ mua ma túy hộ. Đ đồng ý đi mua Heroine giúp để được T cho sử dụng cùng rồi điều khiển xe môtô biển kiểm soát 27B1-838.65 sang khu vực chắn tàu T, quận L với mục đích mua ma túy Heroine để cùng sử dụng. Tại đây, Đ gặp và thỏa thuận mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng của một nam giới khoảng 30 tuổi (không rõ căn cước, lai lịch). Người nam giới dẫn Đ đi theo vào trong ngõ 23 Chợ Hàng được khoảng 50 mét. Nam giới bảo Đ dừng xe lại đứng đợi, còn người này đi bộ vào sâu trong ngõ, khoảng 01 phút sau quay lại đưa cho Đ 01 gói giấy màu trắng. Đ nhận gói giấy màu trắng kích thước khoảng 1,5 x 0,5cm và biết bên trong có số ma túy Heroine. Đ đưa tiền cho nam giới và nói “em chỉ có 192.000 đồng thôi thiếu cho em xin”, nam giới đồng ý cho Đ. Đ cầm gói H vừa mua ở trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe môtô đi đến khu vực đầu ngõ B Chợ Hàng, phường Đ, quận L thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra, Đ đã thả gói ma túy Heroine vừa mua được từ lòng bàn tay trái xuống dưới đất ngay sát chân trái Đ đang đứng cách khoảng 10cm, lực lượng Công an đã phát hiện thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 166/CT-VKSLC ngày 18 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Lường Văn Đ và Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận như nội dung trên và đều khai không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định. T khai đây là lần đầu tiên đưa tiền cho Đ đi mua hộ ma tuý.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lường Văn Đ và Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lường Văn Đ mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Do các bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong vỏ bao gói và lượng ma túy còn lại sau giám định, dấu niêm phong số:479MT/PC09.
- - Trả lại bị cáo Lường Văn Đ 01 ví màu nâu bên trong có 01 Giấy phép lái xe số:[...] mang tên Lường Văn Đ.
Đối với xe môtô BKS: 27B1-838.65, kết quả điều tra xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Lường Thị Q, sinh năm 1999; đăng ký nhân khẩu thường trú: Bản Phăng, M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên là vợ của Lường Văn Đ và không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chị Lường Thị Q; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Đối với nam giới đã bán ma tuý cho Đ, Đ khai không quen biết và không rõ nhân thân, lai lịch. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L chưa có cơ sở để điều tra làm rõ; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý:
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/4/2024, Lò Văn T đã đưa tiền cho Lường Văn Đ đi mua ma tuý và Đ đã mua được 0,18 gam Heroine thì bị bắt quả tang tại khu vực ngõ B chợ Hàng, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Lường Văn Đ và bị cáo Lò Văn T đồng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.
[4] Đây là vụ án có đồng phạm mặc dù mang tính chất giản đơn nhưng cho thấy quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội vì các bị cáo đều biết các hành vi liên quan chất ma túy đều bị nhà nước nghiêm cấm nhưng vì để sử dụng cho bản thân, nên các bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.
[5] Về vai trò: Bị cáo Đ là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo T mặc dù không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tôi nhưng là người đã đưa tiền để bị cáo Đ đi mua ma tuý; nên vai trò các bị cáo ngang nhau.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo; ngoài ra bị cáo T có bố đẻ được tặng Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng nên đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà là có căn cứ chấp nhận và sẽ xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.
- Về hình phạt áp dụng:
[7] Từ những phân tích trên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với động cơ, mục đích, hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung; về mức hình phạt của các bị cáo là ngang nhau.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Các bị cáo đều không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với 01 bì giấy theo niêm phong ma túy số 479MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan (thu giữ của bị cáo Đ). Xét đây là vật cấm lưu hành, đối chiếu điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[10] Đối với 01 ví màu nâu bên trong có 01 Giấy phép lái xe số: [...] mang tên Lường Văn Đ, cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Đ tài liệu điều tra thể hiện không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, đối chiếu khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên trả lại bị cáo Đ.
- Về án phí:
[11] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Về quyền kháng cáo:
[12] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 (bị cáo T) Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Lường Văn Đ và bị cáo Lò Văn T đồng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Lường Văn Đức 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 4 năm 2024.
Xử phạt: L (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 4 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì giấy theo niêm phong ma túy số 479MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan (thu giữ của bị cáo Đ)
- Trả lại bị cáo Lường Văn Đ 01 ví màu nâu bên trong có 01 Giấy phép lái xe số: [...] mang tên Lường Văn Đ.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận L và Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Đ, T; mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đ, bị cáo T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Lộc |
Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 182/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA Lường Văn Đ, Lò Văn T
