Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2024/HS-ST

Ngày: 18/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Dũng

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Hữu Tâm, bà Trần Thị Đúng

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân

huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai N - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 176/2024/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Phạm Văn Trường H (tên gọi khác: Bé); Giới tính: N1; Sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 7B82 ấp G, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Nhà không số, ấp D, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Lê Văn T và bà Phạm Thị L; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Ngày 24/4/2019 bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (theo bản án hình sự sơ thẩm số 79/2019/HSST). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/4/2021 (Theo công văn số 681/TGTĐ(Đ3) ngày 24/10/2023 của Trại giam T5 thuộc Cục C1).

Tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 05/7/2022 bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (theo bản án hình sự sơ thẩm số 131/2022/HSST). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/02/2024 (Theo công văn số 24/2024/GCN ngày 11/02/2024 của Cơ quan thi hành án hình sự Công an Thành phố H.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/02/2024 đến nay (có mặt).

1

2/ Họ và tên: Nguyễn Đức T1 (tên gọi khác: C); Giới tính: Nữ; Sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: 3B/38 ấp C, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 11/9/2023 bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng (theo Quyết định số 714/QĐ-TA).

Bị cáo bị bắt truy nã tạm giam từ ngày 20/02/2024 đến nay (có mặt).

* Bị hại: Ông Trần Minh H2, sinh năm 1986; Nơi cư trú: B13/18E ấp B, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Nguyễn Thành T2, sinh năm 1994; Nơi cư trú: A3/28 tổ C, ấp A, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

2/ Ông Nguyễn Trọng N2, sinh năm 1989; Nơi cư trú: A3/28 tổ C, ấp A, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

* Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Lệ M, sinh năm 1994; Nơi cư trú: D7/37A ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị Lệ M sống chung như vợ chồng đến giữa tháng 7/2021 thì chia tay nhau. Ông Trần Minh H2 là bạn trai của bà Nguyễn Thị Lệ M thường xuyên gặp và chở M đi chơi. Nguyễn Đức T1 biết quan hệ giữa bà M với H2 nên ghen và kể lại vụ việc cho Nguyễn Thành T2, Nguyễn Trọng N2Phạm Văn Trường H biết. Sau đó, giữa T1H2 xảy ra mâu thuẫn thường xuyên điện thoại thách thức đánh nhau.

Khoảng 16 giờ, ngày 12/8/2021, Nguyễn Đức T1 và ông Trần Minh H2 hẹn đánh nhau tại khu vực gần nhà của Nguyễn Đức T1 thuộc địa bản xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Nguyễn Đức T1 gọi Nguyễn Thành T2, Nguyễn Trọng N2, Phạm Văn Trường H đến hỗ trợ đánh nhau với ông Trần Minh H2. Do đợi lâu không thấy ông Trần Minh H2 đến điểm hẹn đánh nhau nên T2, N2, H bỏ về. Một lúc sau, ông Trần Minh H2 gọi điện cho T1 đến điểm hẹn và T1 yêu cầu ông H2 đến khu vực gần nhà của Nguyễn Trọng N2Nguyễn Thành T2 (N2 và T2 là hai anh em ruột cùng địa chỉ A, ấp A, xã L, huyện B) để gặp nhau. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Nguyễn Đức T1 mang theo con dao tự chế bằng kim loại (cây mã tấu) dài khoản 50cm và nhờ Phạm Văn T3 Hận chở đến điểm hẹn để gặp ông Trần Minh H2. Khi Phạm Văn Trường H chở Nguyễn Đức T1 đến khu V thuộc ấp A, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy ông Trần Minh H2 điều khiển xe mô tô chở bà Nguyễn Thị Lệ M chạy trên đường T nên Phạm Văn T3 Hận chạy

2

đến trước chặn đầu xe, ông Trần Minh H2 quay xe bỏ chạy nhưng bị ngã xe nên bỏ chạy bộ thì Nguyễn Đức T1 cầm cây mã tấu đuổi theo. Nguyễn Đức T1 cầm mã tấu bằng hai tay chém từ trên xuống trúng vào cổ tay phải của ông Trần Minh H2 gây thương tích, ông H2 quay lưng lại thì bị T1 tiếp tục chém từ phía sau trúng vào lưng ông H2, ông H2 chạy vào chốt dân phòng gần đó trốn. Thấy vậy, Nguyễn Đức T1, Phạm Văn Trường H bỏ đi, còn ông Nguyễn Đức T1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện C2 và sau đó đến Công an xã L trình báo sự việc.

* Bản kết luận giám định số 199/TgT.22 ngày 24/3/2022 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố H kết luận giám định pháp y về thương tích đối với Trần Minh H2 như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn:
    • Một sẹo vùng lưng dưới ngang qua cột sống kích thước 11,7x(0,1-0,2)cm.
    • Một sẹo vùng mặt mu đốt giữa ngón III tay trái kích thước 2,4x(0,1-0,2)cm.

    Hai thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

  • Vết thương vùng mặt sau trong cổ bản tay phải gây đứt da, đứt gân gấp nông ngón 4, 5, gân duỗi ngón 4, 5, gãy xương nguyệt, tháp, đậu đã được điều trị khâu gân, xuyên kim kết hợp xương, hiện còn:
    • Một sẹo trùng sẹo mổ kích thước 24x(0,1-0,2)cm.
    • Hình ảnh kết hợp xương vùng cổ tay trên phìm Xquang.
    • Tổn thương thần kinh trụ ngay dưới vị trí vết thương trên điện cơ đồ.
    • Hạn chế gấp duỗi cổ tay một phần, bản tay vuốt trụ, giảm cảm giác bờ trụ bàn tay, toàn bộ ngón V và nữa bờ trụ ngón IV.

    Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.

2. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 23%.

3. Kết luận khác:

  • Tất cả các thương tích không gây nguy hiểm đến tính mạng.
  • Con dao không thu giữ được nên không đủ cơ sở trả lời câu hỏi của Cơ quan điều tra.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Nguyễn Đức T1, Phạm Văn Trường H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Nguyễn Trọng N2 khai nhận: khi N2 đang dứng trước địa chỉ ấp A xã L thì thấy H điều khiển xe mô tô chở T1 đuổi theo ông Trần Minh H2 trên đường T cách vị trí N2 khoảng 50 mét thì N2 có lấy thanh gỗ chạy bộ theo. Khi đến hiện trường thì thấy ông trần Minh H2 bị thương nên N2 bỏ thanh gỗ và đi về nhà. N2 không nhìn thấy T1 chém ông H2 như thế nào. Sau khi từ nhà của Nguyễn Đức T1 về N2 không bàn bạc thoả thuận gì với T1 về việc gây thương tích cho ông Trần Minh H2. Đối với Nguyễn Thành T2 trình bày: Nguyễn Thành T2 không mang theo

3

hung khí, không gây thương tích cho ông Trần Minh H2T2 cũng không nhìn thấy T1 gây thương tích cho ông H2.

* Tại bản cáo trạng số 125/CT-VKS ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn đức t, Phạm Văn Trường H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với Nguyễn Thành T2Nguyễn Trọng N2 sau khi đến nhà Nguyễn Đức T1 để giải quyết mâu thuẫn với ông Trần Minh H2 nhưng không gặp ông H2 nên bỏ về. Sau đó, cả hai không bàn bạc, hứa hẹn với T1, H về việc tiếp tục tìm ông H2. Quá trình Nguyễn Đức T1, Phạm Văn Trường H đuổi đánh ông H2 thì T2, N2 không bàn bạc, tham gia đánh nhau mà T2, N2 tự chạy bộ đuổi theo thì sự việc xảy ra. T2N2 không có hành vi giúp sức gây thương tích cho ông H2 nên không đồng phạm với Nguyễn Đức T1Phạm văn Trường H3 nên Cơ quan điều tra không khởi tố, xử lý đối với Nguyễn Thành T2Nguyễn Trọng N2.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Phạm văn Trường H3 từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.
  • - Về vật chứng: Con dao tự chế do Nguyễn Đức T1 sử dụng không thu hồi được.
  • - Về dân sự: đề nghị ghi nhận các bị cáo tự nguyện liên đới bồi thường cho bị hại ông Trần Minh H2 số tiền 60.000.000 đồng, trong đó bị cáo T1 bồi thường 40.000.000 đồng và bị cáo H3 bồi thường 20.000.000 đồng.

* Tại phiên các tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, quá trình tiến hành tố tụng vụ án Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có một số vi phạm tố tụng cần rút kinh nghiệm như:

4

[1.1] Ngày 28/4/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành ra Quyết định số 13/QĐTN-ĐTTH truy nã Nguyễn Đức T1 nhưng đến ngày 18/6/2023 Công an xã B phát hiện Nguyễn Đức T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thuộc trường hợp không có nơi cư trú ổn định (có xác nhận của Công an nơi đăng ký thường trú). Như vậy, Cơ quan công an địa phương đã xác nhận Nguyễn Đức T1 đang bị truy nã là người không có nơi cư trú ổn định để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và sau khi Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì 20/02/2024 Cơ quan điều tra tiến hành bắt người đang bị truy nã là Nguyễn Đức T1 tại cơ sở cai nghiện P;

[1.2] Đối với Phạm Văn Trường H khi tiến hành tố tụng trong vụ án này thì bị cáo Phạm Văn Trường H đang chấp hành hình phạt tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2022/HSST ngày 05/7/2022 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo công văn số 24/2024/GCN ngày 11/02/2024 của Cơ quan thi hành án hình sự Công an Thành phố H thì bị cáo Phạm Văn Trường H đã chấp hành xong hình phạt tù của bản án này vào ngày 11/02/2024. Tuy nhiên, ngày 31/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành Lệnh tạm giam số 400A/LTG-ĐTTH tạm giam Phạm Văn Trường H mà không tiến hành các thủ tục bắt bị can để tạm giam là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 109 và Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự. Toà án đã trả hồ sơ để cơ quan điều tra và Viện kiểm sát khắc phục vi phạm này nhưng cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không thực hiện nên Hội đồng xét xử kiến nghị rút kinh nghiệm để tránh các vi phạm tố tụng xảy ra tương tự.

[2] Căn cứ dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án, khai nhận hành vi của của các bị cáo và tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:

[2.1] Nguyễn Đức T1 và ông Trần Minh H2 có mâu thuẫn với nhau từ trước và thường thách thức đánh nhau. Khoảng 21 giờ ngày 12/8/2021 Phạm Văn Trường H điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đức T1 mang theo con dao tự chế bằng kim loại (cây mã tấu) dài khoản 50cm đến khu vực Cầu X thuộc ấp A, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy ông Trần Minh H2 điều khiển xe mô tô chở bà Nguyễn Thị Lệ M chạy trên đường T nên Phạm Văn T3 Hận chạy đến trước chặn đầu xe, ông Trần Minh H2 quay xe bỏ chạy nhưng bị ngã xe nên bỏ chạy bộ thì Nguyễn Đức T1 cầm cây mã tấu đuổi theo. Nguyễn Đức T1 cầm mã tấu bằng hai tay chém từ trên xuống trúng vào cổ tay phải của ông Trần Minh H2 gây thương tích, ông H2 quay lưng lại thì bị T1 tiếp tục chém từ phía sau trúng vào lưng ông H2 gây thương tích. Căn cứ kết luận giám định của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố H thì tổng tỷ lệ thương tật mà bị cáo Nguyễn Đức T1 gây ra cho bị hại ông Trần Minh H2 là 23% (hai mươi ba phần trăm).

[2.2] Đối với bị cáo Phạm Văn Trường H tuy không dùng hung khí tấn công gây thương tích cho bị hại nhưng bị cáo đã giúp sức tích cực để bị cáo Trung thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã được bị cáo T1 bàn bạc việc đánh nhau với bị hại và bị cáo điều khiển xe mô tô chở bị cáo T1 mang hung khí đi tìm bị hại, bị cáo là người trực tiếp điều khiển xe áp sát làm cho xe của bị hại ngã để bị cáo T1 dùng

5

hung khí tấn công bị hại gây thương tích, ngay sau đó bị cáo điều khiển xe chở T1 rời khỏi hiện trường. Do đó bị cáo Phạm Văn Trường H đồng phạm với bị cáo T1 trong việc gây thương tích cho bị hại.

Từ những căn cứ trên xét thấy hành vi của các bị cáo Nguyễn Đức T1, Phạm Văn Trường H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Ngoài ra, quá trình điều tra và thẩm vấn tại phiên toà còn xác định khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên thì có sự tham gia tích cực của Nguyễn Thành T2Nguyễn Trọng N2. Trước khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì có sự tham gia bàn bạc của Nguyễn Đức T4, Phạm Văn Trường H và các đối tượng Nguyễn Thành T2, Nguyễn Trọng N2 về việc giải quyết mâu thuẫn giữa Nguyễn Đức T1 với bị hại Trần Minh H2 (tất cả tập trung và bàn bạc tại nhà của Nguyễn Đức T1). Sau đó, các bị cáo gặp bị hại tại nơi xảy ra vụ án thì bị cáo Nguyễn Đức T1 đã dùng hung khí gây thương tích cho bị hại. Trong lúc truy đuổi bị hại để gây thương tích thì có sự tham gia tích cực của các đối tượng Nguyễn Thành T2, Nguyễn Trọng N2 (khi truy đuổi N2 có mang theo hung khí là thanh gỗ). Như vậy, Nguyễn Thành T2Nguyễn Trọng N2 đã tham gia tích cực cùng với các bị cáo trong vụ án vào việc gây thương tích cho bị hại, trong lúc tấn công truy đuổi bị hại thì Nguyễn Trọng N2 có mang theo hung khí là thanh gỗ nhằm để tấn công bị hại nhưng chưa gây thương tích cho bị hại là ngoài ý muốn của Nguyễn Thành T2Nguyễn Trọng N2 (bị hại chạy vào chốt văn phòng để trốn).

Như vậy, xét thấy Nguyễn Thành T2Nguyễn Trọng N2 không phải là người trực tiếp gây ra các thương tích của bị hại nhưng trước đó Nguyễn Thành T2, Nguyễn Trọng N2 đã được Nguyễn Đức T1 rủ rê tham gia, bàn bạc việc đánh bị hại và cụ thể vào thời điểm các bị cáo đuổi chém bị hại thì cũng có sự tham gia của Nguyễn Thành T2, Nguyễn Trọng N2 nên Nguyễn Thành T2, Nguyễn Trọng N2 có dấu hiệu đồng phạm với các bị cáo khác và chịu hậu quả chung về tỷ lệ thương tật mà các đồng phạm gây ra cho bị hại. Tuy nhiên, cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ vai trò của các đối tượng Nguyễn Thành T2, Nguyễn Trọng N2 để xử lý là có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội.

Từ những căn cứ trên, xét thấy vụ án có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, Tòa án căn cứ điểm c khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự đã nhiều lần trả hồ sơ cho Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra để khởi tố, truy tố theo quy định của pháp luật nhưng Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng ban đầu. Vì vậy, căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử các bị cáo theo tội danh, khung hình phạt như cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, để đảm bảo việc giải quyết vụ việc đúng pháp luật không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, Hội đồng xét xử kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp có thẩm quyền kháng nghị bản án để xem xét vụ việc theo trình tự phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm.

[4] Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo sử dụng dao tự chế bằng kim loại là vật sắc, vật sắc nhọn, rắn, chắc nên thuộc trường hợp dùng hung khí nguy

6

hiểm. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Đặc biệt các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào thời điểm dịch covid 19 diễn ra gây ảnh hưởng rất lớn đến an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Các bị cáo biết việc sử dụng hung khí gây thương tích cho người khác là trái với quy định của pháp luật nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[6] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Đức T1, Phạm văn Trường H3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy, cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[7] Xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với bị cáo Pham Văn Trường H4, ngày 24/4/2019 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (theo bản án hình sự sơ thẩm số 79/2019/HSST). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù của bản án này ngày 23/4/2021. Như vậy, tính đến lần phạm tội trong vụ án này bị cáo là người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích và tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điển h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Ngoài ra, ngày 05/7/2022 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (theo bản án hình sự sơ thẩm số 131/2022/HSST). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/02/2024. Tuy nhiên, việc phạm tội và bị kết án tại bản án hình sự sơ thẩm số 131/2022/HSST sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo H4 trong vụ án này nhưng xác định bị cáo có nhân thân xấu khi xem xét quyết định hình phạt.

Đối với bị cáo Nguyễn Đức T1 sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bỏ trốn nên bị truy nã và bị bắt theo Quyết định truy nã. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân bị áp dụng biện pháp hành chính trong thời gian trốn truy nã bị cáo vi phạm hành chính bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, khi xem xét quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét về nhân thân và ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo.

[8] Trong vụ án này các bị cáo phạm tội có đồng phạm nhưng không có sự phân công, phân nhiệm, câu kết chặt chẽ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Trong đó bị cáo Nguyễn Đức T1 là người chủ mưu khởi xướng việc phạm tội và người thực hành gây thương tích cho bị hại. Đối với bị cái Phạm Văn

7

Trường H đồng phạm giúp sức cho bị cáo T1 nên tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi và vai trò của bị cáo H thấp hơn bị cáo T1.

Do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét tính tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân và vai trò của từng bị cáo trong vụ án.

[9] Về vật chứng không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về dân sự: tại phiên toà bị hại vắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án bị hại có đơn yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 60.000.000 đồng. Tại phiên toà các bị cáo tự nguyện liên đới bồi thường cho bị hại số tiền này. Cụ thể: bị cáo Nguyễn Đức T1 có trách nhiệm bồi thường số tiền 40.000.000 đồng và bị cáo Phạm Văn Trường H có trách nhiệm bồi thường số tiền 20.000.000 đồng. Xét thấy, việc tự nguyện bồi thường của các bị cáo không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nếu bị hại có yêu cầu khác so với số tiền mà các bị cáo tự nguyện bồi thường thì bị hại được quyền khởi kiện vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.

[11] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2024.
  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điển h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Phạm Văn Trường H 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/02/2024.
  • * Về dân sự: Căn cứ các Điều 357, 584, 590 Bộ luật dân sự;
  • Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Nguyễn Đức T1, Phạm Văn Trường H có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại ông Trần Minh H2 số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng. Trong đó, bị cáo Nguyễn Đức T1 có trách nhiệm bồi thường số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng và bị cáo Phạm Văn T3 Hận có trách nhiệm bồi thường số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.Thực hiện nghĩa vụ bồi thường 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì phải trả thêm tiền lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

8

  • * Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Về án phí: mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Đức T1 nộp 2.000.000 (hai triệu) đồng và bị cáo Phạm Văn t1 Hận nộp 1.000.000 (một triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Bị cáo, đương sự, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 6a, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND TP. Hồ Chí Minh.
  • Công an H. Bình Chánh;
  • VKSND H. Bình Chánh;
  • THA dân sự H.Bình Chánh;
  • PC 53- Công an TPHCM;
  • Sở Tư pháp TPHCM;
  • Bị cáo, đương sự;
  • Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Dũng

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 182/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trường Hân, Nguyễn Đức Trung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger