|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 182/2024/HS-ST Ngày 17/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Xuân Xế, bà Đặng Thị Thập.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2024 tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 184/2024/TLST-HS ngày 02/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2024/QĐXXST-HS ngày 04/10/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bạc Văn N, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Bản L, xã G, huyện P, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạc Cầm P, sinh năm 1976 và con bà Đinh Thị T, sinh năm 1975; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Lò Thị N1, sinh năm 2001; con: có 01 con sinh năm 2019.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Vũ Anh T1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ C khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Văn M, sinh năm 1959 và con bà Đặng Thị H, sinh năm 1959; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Đinh Thị C, sinh năm 1990 (đã ly hôn); con: chưa có
Tiền sự: Không.
Tiền án:
- + Tại Bản án số 99/2013/HSST ngày 27/9/2013 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, xử phạt T1 36 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1, 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, bị cáo ra trại ngày 11/11/2015, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí sơ thẩm.
- + Tại Bản án số 157/2017/HSST ngày 06/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt T1 9 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, bị cáo bị cáo ra trại ngày 12/3/2018, bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm.
- + Tại Bản án số 273/2018/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt T1 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo ra trại ngày 28/9/2020, bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm.
- + Tại Bản án số 243/2021/HSST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt T1 27 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo ra trại ngày 30/9/2023, bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
Người tham gia tố tụng khác:
- Cán bộ Tin học Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Cán bộ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
(Đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 21/6/2024, tại thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Y kiểm tra, bắt quả tang Bạc Văn N bán trái phép chất ma tuý cho Vũ Anh T1.
T2 tại bàn tay trái của T1 01 gói giấy màu bạc bên trong có gói giấy màu vàng chứa chất bột màu trắng. T1 khai nhận là gói ma tuý vừa mua của N với giá 500.000 đồng để sử dụng cho bản thân.
Công an tiến hành thu giữ:
- T2 tại túi quần phía trước bên trái của Bạc Văn N 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, Nguyên khai nhận là tiền mua ma túy T1 trả cho N.
Tại bản Kết luận giám định số 1536/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“- Chất bột màu trắng bên trong gói giấy màu vàng bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng có khối lượng là 0,1211 gam; Là ma túy; Loại ma túy (H). Heroine (Heroine) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Tại Bản Cáo trạng số 181/CT-VKS-YP ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Bạc Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Vũ Anh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Các bị cáo N và bị cáo T1 khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 21/6/2024, N mua ma tuý của một người đàn ông không quen biết với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N đi bộ đến thôn Á thì gặp Vũ Anh T1, T1 hỏi N: “Có ma túy Heroine không bán cho tôi 500.000 đồng”. Do có sẵn ma túy vừa mua được nên N nảy sinh ý định bán số ma túy trên cho T1 để kiếm lời. T1 đưa cho N 500.000 đồng. N nhận tiền và đưa lại cho T1 01 gói ma túy Heroine. T1 cầm gói ma túy vừa mua trong lòng bàn tay trái. Đúng lúc này, lực lượng Công an đến kiểm tra, bắt quả tang N, T1.
Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố là đúng người, đúng tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bạc Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tuyên bố bị cáo Vũ Anh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
-Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bạc Văn N từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/6/2024.
Áp dụng khoản điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự xử phạt: Vũ Anh T1 từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Bạc Văn N, sinh năm 1999; HKTT: Bản Lìn, G, P, Sơn La bán trái phép chất ma túy; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu là những vật liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng.
Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo N, bị cáo T1.
Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện Y phối hợp với Công xã Yên Trung kiểm tra, bắt quả tang Bạc Văn N đang bán trái phép 0,1211 gam ma túy Heroine cho Vũ Anh T1 với giá 500.000 đồng để kiếm lời. Vũ Anh T1 có hành vi mua trái phép 0,1211 gam ma túy Heroine ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo N mua chất ma túy, bán trái phép cho bị cáo T1 để kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo T1 mua chất ma túy có khối lượng 0,1211 gam để sử dụng cho bản thân đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra ma túy là chất gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bản thân bị cáo hiểu biết về tác hại của ma túy cũng như những quy định của pháp luật nghiêm cấm đối với tất cả các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vẫn vi phạm, vì vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo N là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo T1 có 04 tiền án, cụ thể: Tại Bản án số 99/2013/HSST ngày 27/9/2013 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, xử phạt T1 36 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1, 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, bị cáo ra trại ngày 11/11/2015, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí sơ thẩm. Tại Bản án số 157/2017/HSST ngày 06/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt T1 9 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, bị cáo bị cáo ra trại ngày 12/3/2018, bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm. Tại Bản án số 273/2018/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt T1 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo ra trại ngày 28/9/2020, bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm.Tại Bản án số 243/2021/HSST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt T1 27 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo ra trại ngày 30/9/2023, bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm. Bị cáo không lấy đó làm bài học cải tạo cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo T1 có tình tiết tái phạm nguy hiểm được áp dụng làm tình tiết định khung hình phạt nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung trong nhân dân như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Bạc Văn N, sinh năm 1999; HKTT: Bản Lìn, G, P, Sơn La bán trái phép chất ma túy; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu.
+ Đối với số tiền 500.000 đồng do N bán ma túy cho T1, đây là số tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo N, bị cáo T1.
[3] Những vấn đề khác:
Trong vụ án này, người đàn ông đã bán ma túy cho N nhưng N không biết tên, tuổi cũng như địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra nhanh ma túy đối với bị cáo, kết quả xác định các bị cáo dương tính với ma túy. Do các bị cáo không nhớ địa điểm sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra chưa xử lý. Khi nào làm rõ thời gian, địa điểm sử dụng ma túy sẽ xử lý sau.
[4] Về án phí: Bị cáo N và bị cáo T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
— Tuyên bố bị cáo Bạc Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
— Tuyên bố bị cáo Vũ Anh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Bạc Văn N 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/6/2024
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Anh T1 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/6/2024.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
Quyết định tạm giam bị cáo Bạc Văn N 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Quyết định tạm giam bị cáo Vũ Anh T1 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Bạc Văn N, sinh năm 1999; HKTT: Bản Lìn, G, P, Sơn La bán trái phép chất ma túy; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu.
+ Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
Theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản ngày 27/8/2024 tại Kho bạc Nhà nước huyện Y.
Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo N, bị cáo T1
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo N và bị cáo T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Báo cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |
Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 182/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bạc Văn Nguyên, Vũ Anh Tuấn - MBMT, TTMT
