TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 182/2024/HS-ST Ngày 20 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên và ông Huỳnh Văn Nam.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 178/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Văn N, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1997 tại thành phố L, tỉnh An Giang. Cư trú: số A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Minh H (chết) và bà Lê Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 7 năm 2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị hại: Ông Lê Văn T, sinh năm 1959; Cư trú: Tổ B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn C, sinh năm 1990; Cư trú: Khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Ông Thích Văn S, sinh năm 1985; Cư trú: P, nhà trọ H1, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Bùi Lê Trí D, ông Ngô Trọng  (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 13 tháng 7 năm 2024, Trương Văn N đi bộ đến nhà ông Lê Văn T thuộc tổ B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, thấy nhà đóng cửa, không người trông giữ và bên trong có dựng một xe mô tô hiệu Wave S, màu đen xám, biển số 65R2-3114 nên nảy sinh ý định trộm xe. Lúc này, N đến trước nhà ông Đặng Văn B tại số C, tổ B, khóm T, phường M lấy 01 cây kềm bằng kim loại do N nhặt được và để trước đó ít ngày. Sau đó, N quay lại nhà ông T dùng kềm mở cửa vào bên trong lấy trộm 01 xe mô tô biển số 65R2-3114 rồi mang bán cho ông Thích Văn S với giá 800.000 đồng, số tiền bán xe Nhàn tiêu xài cá nhân 780.000 đồng, còn lại 20.000 đồng. Sau khi trộm xe, N đã ném cây kềm xuống kênh thuộc khu vực tổ B, khóm T, phường M, thành phố L. Đến ngày 14 tháng 7 năm 2024, N đến Công an phường M đầu thú hành vi phạm tội và giao nộp 20.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 xe 65R2-3114, nhãn hiệu Kozumi dáng xe Wave S, màu sơn xanh, số khung 368791, số máy 3068822; Tiền Việt Nam 20.000 đồng.
Kết luận định giá trị tài sản số 1184/KL-HĐĐGTS, ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố L: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Kozumo dáng xe Wave S, số máy 2FMHKM019069, số khung H1ND9B1B19069 biển số 65R2-3114, trị giá 3.020.000 đồng.
Kết luận giám định số 1165/KL-KTHS, ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh A: Xe mô tô biển số 65R2-3114, số khung RNDWCH1ND91B19069, số máy VDGZS152FMHKM019069, số khung, số máy, không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy xóa, hoen gỉ.
Cáo trạng số: 186/CT-VKSLX, ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, truy tố Trương Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trương Văn N từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Văn T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thích Văn S không yêu cầu bồi thường, nên không xét đến.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 20.000 đồng do liên quan đến hành vi phạm tội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn N khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông T như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn, hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại ông Lê Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thích Văn S vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra trình bày: Ngày 13 tháng 7 năm 2024, ông S có mua của N 01 xe mô tô biển số 65R2-3114, với giá 800.000 đồng. Ông không biết xe do phạm tội mà có, ông đã giao nộp xe cho Công an và không yêu cầu N bồi thường thiệt hại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra trình bày: Xe mô tô biển số 65R2-3114 do C mua năm 2009 và đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, sau đó C đã bán xe lại cho người không rõ họ, tên. Ông C không tranh chấp vấn đề gì khác liên quan đến xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của những người tham gia tố tụng nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 22 ngày 13 tháng 7 năm 2024, khi đi bộ đến nhà ông Lê Văn T tại tổ B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, thấy nhà đóng cửa và không người trông giữ nên Trương Văn N đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Wave S, màu đen xám, biển số 65R2-3114 của ông T với giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.020.000 đồng. Hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự có khung hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện bị cáo rất manh động, liều lĩnh và xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo không tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thích Văn S không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã giao trả 01 xe mô tô hiệu Wave S, màu đen xám, biển số 65R2-3114 cho ông Lê Văn T theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 01/10/2024, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền bị thu giữ 20.000 đồng, đây là tiền bị cáo có được từ hành vi phạm tội, ông S không yêu cầu nhận lại, nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trương Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trương Văn N 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/7/2024).
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng), (theo Quyết định chuyển vật chứng số: 159/QĐ-VKSLX, ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trương Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Chiền |
Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 182/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
