|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 182/2024/HS-ST Ngày: 11-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Mai Thị Đào Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tạ Công Minh.
- Ông Đỗ Thanh Hiền.
Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Song – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 174/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Vũ Minh H (không có tên gọi khác) sinh ngày 09/6/1984, tại tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nam; CCCD: Chưa được cấp; Nguyên quán: Phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nơi thường trú: Không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; Nơi tạm trú: Không; Nơi ở hiện tại: ở trọ tại xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 07/12; Cha tên Vũ Đình H1 (đã chết) và mẹ tên Lê Thị Ánh H2 (đã chết); Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình có 01 người con; Người sống như vợ chồng với bị cáo là Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1973; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2008; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần. Ngày 19/9/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 109/2023/HS-ST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/3/2024).
- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/7/2024, chuyển sang tạm giam từ ngày 16/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Bị hại:
- Nguyễn Thị Y, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã B, huyện C, Tiền Giang. - Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 1959 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, Khu phố A, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. - Giáp Thị K, sinh năm 1962 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số F N, Phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. - Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1971 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, đường Ấ, Khu phố3, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
* Người làm chứng:
- Huỳnh Thị Ngọc H3, sinh năm 1965 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, Khu phố A, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. - Đặng Minh N, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, đường Á, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. - Nguyễn Văn D, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, Khu phố E, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. - Trần Thị Yến N1, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã B, huyện C, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 22/6/2024 đến ngày 10/7/2024 cũng với hành vi và thủ đoạn như nhau là điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Jupiter màu đỏ - đen, gắn biển số 54V-7934 xung quanh khu vực thành phố M và xã B, huyện C để tìm ai sơ hở trong quản lý tài sản, bị cáo H đã thực hiện nhiều lần trộm cắp tài sản, cụ thể:
* Vụ thứ nhất:
Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 22/6/2024, bị cáo H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài cá nhân nên điều khiển xe môtô Yamaha Jupiter chạy ngang qua quầy bán chanh, tắc của bà Giáp Thị K tại số F N, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang thì phát hiện 01 điện thoại di động hiệu OPPO A55 màu xanh - tím đang để trên thùng giấy carton gần nơi bà K ngồi bán. Bị cáo Hoàng dựng xe bên ngoài rồi đi vào giả vờ hỏi mua chanh, lợi dụng lúc bà K sơ hở, không để ý bị cáo H trộm cắp chiếc điện thoại này bỏ vào túi quần bên trái của mình rồi điều khiển đến khu vực chợ M thuộc phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang bán cho 01 người thanh niên không rõ lai lịch với giá 700.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.
* Vụ thứ hai:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/6/2024, bị cáo H tiếp tục điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Jupiter đến quầy bán trái cây của chị Nguyễn Thị Thùy T tại khu vực chợ B thuộc khu phố C, phường A, thành phố M thì thấy chị T đang nằm ngủ trên người có 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu trắng, bị cáo Hoàng dựng xe bên ngoài, bước đến trộm cắp điện thoại di động bỏ vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe môtô chạy đi. Khi đến đến khu vực giếng nước công viên T phường D, thành phố M, bị cáo H dừng xe lại lấy điện thoại vừa trộm được ra kiểm tra (theo H khai) thì phát hiện điện thoại bị nứt màn hình và không mở nguồn được nên vứt điện thoại xuống giếng nước rồi bỏ về nhà.
* Vụ thứ ba:
Khoảng 18 giờ ngày 05/7/2024, cũng hành vi như trên bị cáo H điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Jupiter đến nhà bà Nguyễn Thị Mỹ C tại số B khu phố A, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang hỏi mua ống nước. Tại đây, bị cáo H giả vờ mua ống nước nhằm mục đích cho bà C rời khởi quầy tính tiền chuẩn bị ống nước bán để sơ hở và không ai trông coi tủ tiền. Bị cáo H lén lút vào bên trong quầy mở tủ, trộm cắp 7.280.000 đồng được quấn lại bằng dây cao su (dây thun) rồi điều khiển xe môtô chạy đi. Số tiền này bị cáo H đã tiêu xài cá nhân hết.
* Vụ thứ tư:
Khoảng 12 giờ, ngày 10/7/2024 bị cáo H tiếp tục điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Jupiter lưu thông trên đường T hướng thành phố M về xã B tìm tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi điều khiển xe mô tô ngang qua tiệm Tạp hóa không tên do bà Nguyễn Thị Y làm chủ tại tổ A, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì phát hiện bà Y đang nằm ngủ, cửa tiệm không khóa, bị cáo Hoàng quan S thấy không ai trông coi nên dựng xe tại lề đường rồi bước vào tủ gỗ, gắn kính được đặt gần nơi bà Y đang ngủ. Bị cáo Hoàng mở hộc tủ, lục tìm tài sản thì thấy 01 hộp bằng kim loại có chữ Danisa, không có nắp đậy bên trong hộp có nhiều card điện thoại di dộng của nhiều nhà mạng khác nhau và nhiều mệnh giá khác nhau nhưng chưa qua sử dụng nên lén lút trộm cắp hộp kim loại này, rồi điều khiển xe mô tô về hướng thành phố M. Khi đến gần ngã 4 chợ B1, bị cáo H thấy lực lượng dân quân phường A, thành phố M nên điều khiển xe mô tô rẽ trái về hướng quốc lộ A. Thấy bị cáo H điều khiển xe không biển số và giống đối tượng đã thực hiện hành vi trộm cắp trên địa bàn phường A, thành phố M nên tổ công tác đuổi theo, bị cáo H bỏ chạy đến khu vực thuộc ấp B, xã T, thành phố M thì rẽ phải vào hẻm, mục đích để tẩu thoát nhưng bị lực lượng dân quân bắt giữ, thu giữ tang vật, mời H về Công an xã T làm việc rồi bàn giao đồ vật, tài liệu và vật chứng đến Công an xã B. Sau khi củng cố hồ sơ Công an xã B đã chuyển Cơ quan CSĐT Công an huyện C để điều tra theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra Vũ Minh H đã khai nhận hành vi của mình như trên.
* Kết luận định giá tài sản số: 48/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M, tỉnh Tiền Giang kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh - tím tại thời điểm định giá, là 3.000.000 đồng.
* Kết luận định giá tài sản số: 45/KL-HĐĐGTS ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M, tỉnh Tiền Giang kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu màu trắng, tại thời điểm định giá là 3.145.000 đồng.
* Kết luận định giá tài sản số: 70/KL-HDĐG ngày 15/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 hộp vỏ bánh Danisa màu xanh bằng kim loại, bên trong có nhiều Card điện thoại gồm: 01 thẻ Card Viettel mệnh giá 200.000 đồng; 08 thẻ Card Viettel mệnh giá 100.000 đồng; 14 thẻ Card Viettel mệnh giá 50.000 đồng; 22 thẻ Card Viettel mệnh giá 20.000 đồng. 06 thẻ Card Mobile mệnh giá 100.000 đồng; 05 thẻ Card Mobile mệnh giá 50.000 đồng; 13 thẻ Card Mobile mệnh giá 20.000 đồng; 10 thẻ Card Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng; 10 thẻ Card Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng; 27 thẻ Card Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng; 18 thẻ Card Vietnamobile mệnh giá 50.000 đồng; 04 thẻ Card Vietnamobile mệnh giá 20.000 đồng. Tổng giá trị 6.270.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo H đã chiếm đoạt có giá trị là 19.695.000 đồng (Mười chín triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
* Vật chứng, đồ vật được tạm giữ và xử lý:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ - đen không biển số. Theo kết luận giám định số: 1023/KL-KTHS(Đ2) ngày 09/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Số khung: RLCJ5B960-9Y073961 trước và sau giám định không đổi; số máy: 5896-073965 trước và sau giám định không đổi.
- 01 hộp bằng kim loại hình tròn, hiệu Danisa; 01 thẻ Card Viettel mệnh giá 200.000 đồng; 08 thẻ Card Viettel mệnh giá 100.000 đồng; 14 thẻ Card Viettel mệnh giá 50.000 đồng; 22 thẻ Card Viettel mệnh giá 20.000 đồng. 06 thẻ Card Mobile mệnh giá 100.000 đồng; 05 thẻ Card Mobile mệnh giá 50.000 đồng; 13 thẻ Card Mobile mệnh giá 20.000 đồng; 10 thẻ Card Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng; 10 thẻ Card Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng; 27 thẻ Card Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng; 18 thẻ Card Vietnamobile mệnh giá 50.000 đồng; 04 thẻ Card Vietnamobile mệnh giá 20.000 đồng; căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Y; sổ lãnh lương và sổ hộ khẩu số [...] mang tên Nguyễn Thị Y, là tài sản của bà Y nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C trả lại cho bà Nguyễn Thị Y, nhận lại tài sản bà Y không yêu cầu gì thêm.
- Đĩa CD lưu một đoạn camera ghi lại hình ảnh vụ trộm ngày 22/6/2024; đĩa CD lưu một đoạn camera ghi lại hình ảnh vụ trộm ngày 25/6/2024 và đĩa CD lưu một đoạn camera ghi lại hình ảnh vụ trộm ngày 05/7/2024 (kèm theo hồ sơ vụ án);
- Điện thoại di động hiệu S1 A53 5G màu đen, số IMEI 1: 353842192078515; số IMEI 2: 35470820207851, có gắn ốp lưng màu đen có ghi dòng chữ VERSACE và điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng - trắng, số IMEI 1: 357334081700165; số IMEI 2: 357334081700173 là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.
Sau khi có quyết định truy tố, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang ra quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tiếp tục tạm giữ, chờ xử lý gồm:
* Trách nhiệm dân sự:
Các bị hại bà Giáp Thị K, chị Nguyễn Thị Thùy T, bà Nguyễn Thị Mỹ C và bà Nguyễn Thị Y không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Theo Cáo trạng số 168/CT-VKSCT ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Vũ Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
Bị cáo H khai nhận, bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt tù vào tháng 3/2024 do bị cáo không có đăng ký hộ khẩu thường trú nên bị cáo chưa được cấp căn cước công dân, bị cáo đang đi xin làm bảo vệ, sau khi ra tù cha mẹ đã qua đời mà bị cáo không có tiền để làm mộ cho cha mẹ nên bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác, tất cả các lần thực hiện hành vi trộm cắp chỉ có 01 mình bị cáo thực hiện, số tiền trộm được bị cáo đã tự mình sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung A53 5G màu đen, có gắn ốp lưng màu đen có ghi dòng chữ VERSACE và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng - trắng. Về trách nhiệm dân sự, các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản ghi lời khai của các bị hại; Nội dung ghi hình của camera giám sát; Kết luận định giá tài sản; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 22/6/2024 đến ngày 10/7/2024 bị cáo Vũ Minh H đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố M và huyện C, cụ thể: Bị cáo H trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, trị giá 3.000.000 đồng của bà Giáp Thị K; trộm cắp 01 chiếc điện thoại, trị giá 3.145.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thùy T; trộm cắp số tiền 7.280.000 đồng của bà Nguyễn Thị Mỹ C và trộm cắp của bà Nguyễn Thị Y, nhiều card điện thoại chưa qua sử dụng có tổng giá trị là 6.270.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 19.695.000 đồng. Hành vi của bị cáo Vũ Minh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo thực hiện đã xem thường pháp luật, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu của các bị hại mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo, đồng thời bảo đảm ngăn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Xét tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo H có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm; đồng thời bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên nên bị cáo H bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô 02 bánh hiệu YAMAHA Jupiter màu đỏ - đen, gắn biển số 54V-7934, số máy: 5896-073965, số khung: RLCJ5B960-9Y073961 có số máy và số khung không đổi nhưng qua tra cứu không có kết quả. Đây là tài sản bị cáo H đã mua và bị cáo đã sử dụng làm phương tiện để thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A53 5G màu đen, có gắn ốp lưng màu đen có ghi dòng chữ VERSACE và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng - trắng, đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Xét đề nghị truy tố của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo H là có căn cứ và phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về hình phạt
- - Tuyên bố bị cáo Vũ Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 32; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Vũ Minh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/7/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô 02 bánh hiệu YAMAHA Jupiter màu đỏ - đen, gắn biển số 54V-7934, số máy: 5896-073965, số khung: RLCJ5B960-9Y073961.
- Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Samsung A53 5G màu đen, có gắn ốp lưng màu đen có ghi dòng chữ VERSACE và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng - trắng.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Đào Oanh |
Bản án số 182/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 182/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Minh H phạm tội trộm cắp tài sản
