Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 182/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28/11/2024

V/v Ly hôn, tranh chấp

nuôi con khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 170/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 70/QĐ-HPT ngày 11/11/2024 giữa:

* Nguyên đơn: Chị Dương Thị Lan A, sinh năm

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;

* Bị đơn: Anh Lê Doãn G, sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Nơi cư trú hiện nay: Nhật Bản.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Dương Thị Lan A trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Lan A và anh Lê Doãn G sau thời gian tìm hiểu yêu thương nhau trên cơ sở tự nguyện đã tổ chức cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 12/4/2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian rất ngắn. Do điều kiện kinh tế khó khăn, đến cuối năm 2023 anh Lê Doãn Giáp G đi xuất khẩu lao động bên Nhật Bản, cụ thể anh G ở địa chỉ cụ thể bên Nhật thế nào chị cũng không biết. Kể từ khi anh G đi xuất khẩu lao động tình cảm vợ chồng dần phai nhạt, vợ chồng không hợp nhau về quan điểm sống, nguyên nhân là anh G không còn quan tâm đến vợ con, bản thân chị Lan A khi cưới xong cũng rất ít khi ở bên nhà chồng, chủ yếu chị sống bên nhà ông bà ngoại nên sự gắn kết giữa hai bên không có. Xét thấy tỉnh cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lan A có đơn xin ly hôn anh Lê Doãn G.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Lê Bảo N, sinh ngày 08/10/2022. Nay ly hôn chị xin được nuôi cháu và không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

* Bị đơn là anh Lê Doãn G không có mặt tại và chị không biết địa chỉ cụ thể của chồng là anh G ở đâu tại Nhật Bản nên không thể cung cấp địa chỉ của anh G cho Tòa án, chị cho biết anh G vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là Nguyễn Thị Q, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin của anh G từ gia đình, địa phương.

Theo yêu cầu của chị Lan A, ngày 09/10/2024 và ngày 23/10/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa cùng đại diện chính quyền địa phương tiến hành xác minh tại gia đình bà Nguyễn Thị Q (mẹ anh G) ở Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh hóa thì được biết:

Bà Nguyễn Thị Q đã thông báo qua điện thoại cho anh Lê Doãn G các nội dung văn bản liên quan đến vụ án ly hôn giữa anh Q với chị Lan A mà Toà án đã giao cho bà (do bà không biết địa chỉ cụ thể bên N của anh G nên không gửi văn bản sang được)

Bà Q cho biết chị Lan A và anh G tự do tìm hiểu và có tổ chức cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kêt hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, sau khi cưới anh chị ở cùng bà thời gian rất ngắn, khoảng hai tháng sau chị Lan A xuống Thành phố T đi là công nhân, một thời gian sau anh G cũng xuống Thành phố T đi làm cùng vợ. Năm 2023 anh G đi xuất khẩu lao động bên Nhật Bản, địa chỉ cụ thể ở đâu tôi không biết, thỉnh thoảng có liên lạc về gia đình thông qua điện thoại. Khi Toà án đến làm việc và giao các thông báo về việc ly hôn giữa anh G và chị Lan A tôi mới biết, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thế nào tôi không rõ, ly hôn là quyền của mỗi người nên việc chị Lan A xin ly hôn anh G tôi tôn trọng quyết định của hai cháu.

Chị Lan A và anh G có 01 con chung, cháu tên là Lê Bảo N, sinh ngày 08/10/2022, từ nhỏ cháu đã ở với mẹ, hiện tại chị Lan A đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, nếu giải quyết ly hôn thì tôi đề nghị cháu Bảo N giao cho chị Lan A nuôi dưỡng vì bố cháu đang ở nước ngoài.

Về tài sản, công nợ chung của chị Lan A và anh G bà không biết nên không có ý kiến.

* Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án:

Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Dương Thị Lan A về việc xin ly hôn anh Lê Doãn G là có căn cứ pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án. anh G và gia đình anh cố tình không cung cấp địa chỉ cụ thể cho chị Lan A và Tòa án, nên Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa không lấy được lời khai trình bày của anh G và không thể tiến hành các thủ tục Tố tụng đối với anh G theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ - HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ thì Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX:

  • Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Dương Thị Lan A, cho chị được ly hôn với anh Lê Doãn G.
  • Về con chung: Giao cho chị Dương Thị Lan A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Bảo N, sinh ngày 08/10/2022 đến khi đủ 18 tuổi; chấp nhận việc chị Lan A không yêu cầu anh G phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị.
  • Về tài sản và công nợ chung: Chị Dương Thị Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  • Về án phí: Chị Dương Thị Lan A là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị 300.000 đồng. chị Lan A đã nộp đủ án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Tại Đơn khởi kiện ngày 13/9/2024, chị Lan A trình bày hiện tại anh G đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, trên thực tế theo Công văn số 22037/XNC(P3) ngày 24/9/2024 của C xuất nhập cảnh Bộ C1 xác nhận Lê Doãn G đã xuất cảnh khỏi Việt Nam vào ngày 23/9/2023 qua cửa khẩu sân bay N bằng hộ chiếu số C4151759 đến nay chưa có thông tin nhập cảnh.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

- Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Anh Lê Doãn G không có địa chỉ cụ thể tại Đài Loan nhưng thường xuyên liên lạc về gia đình qua điện thoại. Mẹ anh là bà Lô Thị H đã cam kết sẽ thông tin các văn bản tố tụng liên quan đến việc ly hôn cho anh T. do đó việc cấp tống đạt cho anh T tại nước ngoài được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định tố tụng trong vụ án cho mẹ anh Lê Doãn G là bà Nguyễn Thị Q.

[2] Xét nội dung khởi kiện của chị Dương Thị Lan A

[2.1] Về hôn nhân:

Chị Dương Thị Lan A và anh Lê Doãn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 12 tháng 4 năm 2022 nên là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại điều 8; 9 luật HNGĐ năm 2014.

Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị Lan A trình bày vợ chồng chị sau khi cưới sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách, quan điểm sống bất đồng, hay cãi nhau. Cuối năm 2023 anh T đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản, chúng tôi sống ly thân, anh G không còn quan tâm đến gia đình khiến tình cảm vợ chồng phai nhạt, không có tiếng nói chung, đến nay thì không còn liên lạc với nhau nữa. Chị Lan A xác định tình cảm vợ chồng không còn, không muốn hòa giải đoàn tụ.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Lan A và anh G đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho chị được ly hôn anh G theo quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung:

Chị Lan A và anh G có 01 (một) con chung là cháu Lê Bảo N, sinh ngày 08/10/2022, hiện cháu Bảo N đang sống cùng chị Lan A và chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh G phải đóng góp cấp dưỡng cho việc nuôi con cùng chị. Xét thấy nguyện vọng của chị xin được trực tiếp nuôi con là chính đáng vì hiện nay anh G đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con được.

Do đó để đảm bảo quyền lợi và tốt nhất cho cháu, cần giao cháu Bảo N cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị Lan A tự nguyện không yêu cầu anh G cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy chị G1 có công việc làm, có thu nhập và nơi ở ổn định, đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bảo N và đây là sự tự nguyện của chị nên được chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản, công nợ chung: Chị Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh G không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này nếu anh chị yêu cầu thì có quyền khởi kiện tại Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị Dương Thị Lan A là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273; 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51; 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 6; điểm a Khoản 1 Điều 24; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Lan A
    • - Về hôn nhân: Cho chị Dương Thị Lan A được ly hôn anh Lê Doãn G
    • - Về con chung: Giao cháu Lê Bảo N - Sinh ngày 08/10/2022 là con chung của chị Dương Thị Lan A và anh Lê Doãn G cho chị Lan A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh G không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Lan A.

    Anh Lê Doãn G có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  2. Về án phí: Chị Dương Thị Lan A phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Biên lai thu số: 0000566 ngày 07/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. (Chị Lan A đã nộp đủ tiền án phí).
  3. Quyền kháng cáo:

Chị Dương Thị Lan A có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể kể từ ngày tuyên án.

Anh Lê Doãn G có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được Bản án, hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại HN;
  • - P9VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND Xã Thượng Ninh H. Như Xuân
  • - Đương sự;
  • - Lưu HSVA; Lưu Tòa HNGĐ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2024/HNGĐ-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 182/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger