|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 182/2024/HNGĐ-ST Ngày 24-9-2024 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hồng Thủy
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Xuân Phương
- Ông Phạm Đình Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 859/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/HPT-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị P, sinh năm: 1991
- Hộ khẩu thường trú: Tổ 14 T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
- Địa chỉ liên lạc: Số 186 H, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Ông Phạm Văn D, sinh năm: 1990
- Địa chỉ: Tổ 14 T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 26/7/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị P trình bày:
Bà và ông Phạm Văn D kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, vợ chồng bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N vào năm 2011. Quá trình chung sống vợ chồng bà thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Hiện nay, bà và ông D không còn sống chung với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông K.
Về con chung: Bà và ông Phạm Văn D có hai con chung là Phạm Như Q, sinh ngày: 31/3/2013 và Phạm Văn T, sinh ngày: 23/9/2014. Hiện nay hai cháu đang ở với ông D nên bà đề nghị giao hai cháu Phạm Như Q và Phạm Văn T cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, bà không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do; do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai của bị đơn cũng như không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Phạm Thị P được ly hôn ông Phạm Văn D. Về con chung, giao hai con chung là Phạm Như Q, sinh ngày: 31/3/2013 và Phạm Văn T, sinh ngày: 23/9/2014 cho ông D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của bà P. Về tài sản chung và nợ chung, bà P không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về án phí, bà P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Phạm Thị P có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc ly hôn với ông Phạm Văn D. Ông D có địa chỉ cư trú tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Phạm Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Văn D đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Phạm Thị P và ông Phạm Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 15/2013, quyển số 01/2013, ngày 18/01/2013 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Theo lời khai của bà P, quá trình chung sống vợ chồng bà thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Hiện nay, bà P và ông D không còn sống chung với nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông D đến Tòa làm việc nhưng ông D vẫn vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông D không có thiện chí đoàn tụ gia đình với bà P. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà P và ông D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị ly hôn của bà P là chính đáng, có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- [3] Về con chung:
Bà Phạm Thị P và ông Phạm Văn D có hai con chung là Phạm Như Q, sinh ngày: 31/3/2013 và Phạm Văn T, sinh ngày: 23/9/2014. Bà P đề nghị giao hai con chung cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay ông D là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Tại các bản tự khai ngày 18/12/2023, hai cháu Phạm Như Q và Phạm Văn T cũng có nguyện vọng được ở với ba. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung phát triển toàn diện và được sống ổn định nên giao hai cháu Phạm Như Q và Phạm Văn T cho ông D tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp.
- [4] Về cấp dưỡng: Ông Phạm Văn D không đến Tòa để trình bày ý kiến cũng như yêu cầu của mình về vấn đề cấp dưỡng nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của bà P.
- [5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6] Về án phí: Bà P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [7] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị P.
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị P được ly hôn ông Phạm Văn D.
- 2. Về con chung: Giao hai con chung là Phạm Như Q, sinh ngày: 31/3/2013 và Phạm Văn T, sinh ngày: 23/9/2014 cho ông Phạm Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Bà Phạm Thị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Đồng thời, có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.
- 3. Về cấp dưỡng: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của bà P.
Vì lợi ích của con chung, nếu xét thấy cần thiết bà P và ông D đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.
- 4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị P xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- 5. Về án phí: Bà Phạm Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0012186 ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà P đã nộp đủ án phí.
Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- 6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị P, bị đơn ông Phạm Văn D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Hồng Thủy |
Bản án số 182/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 182/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
