|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 182/2024/DS-PT
Ngày: 24/4/2024
V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy GCNQSDĐ"
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh;
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Việt Hà;
Ông Ong Thân Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phan Diệu Nhân, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DSST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4308/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trịnh Thị H1, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị H2 – Luật sư công ty L2; Địa chỉ: Tầng F, số nhà A đường T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Quang P, sinh năm 1960, có mặt;
Ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1963, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông V: Anh Nguyễn Văn T, có mặt.
Ông P, ông V, anh T có cùng địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cụ Nguyễn Thị T1, sinh năm 1938 (mẹ chồng của nguyên đơn và là mẹ đẻ của các bị đơn), vắng mặt;
- Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1966 (chồng nguyên đơn Trần Thị H), vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1989 (con gái của nguyên đơn Trần Thị H), vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (con gái của nguyên đơn Trần Thị H), vắng mặt;
- Anh Nguyễn Quang H5, sinh năm 2000 (con trai của nguyên đơn Trần Thị H, vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Minh L, sinh năm 1965 (vợ của bị đơn Nguyễn Quang P), vắng mặt;
- Anh Nguyễn Quang P1, sinh năm 1987 (con trai của bị đơn Nguyễn Quang P), vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thủy L1, sinh năm 1999 (con trai của bị đơn Nguyễn Quang P), vắng mặt;
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 (con trai của bị đơn Nguyễn Quang V), có mặt;
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967 (vợ của bị đơn Nguyễn Quang V), vắng mặt;
- Anh Nguyễn Văn H6, sinh năm 1991 (con trai của bị đơn Nguyễn Quang V), vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố B, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Cụ T1, ông Q, chị H3 có cùng địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H5, bà L, anh P1, chị L1, bà N, anh T, anh H6 có cùng địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của anh P1, cụ T1, bà L, chị L1: Ông Nguyễn Quang P, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông V, bà N, anh H6: Anh Nguyễn Văn T, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Q, chị H3, chị H4, anh H5: Chị Trần Thị Thùy D, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn P, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vợ chồng cụ Nguyễn Quang C (đã chết năm 1997) và cụ Nguyễn Thị T1 sinh được 03 người con trai là ông Nguyễn Minh Q (chồng nguyên đơn Trần Thị H và ông Nguyễn Quang P (Bị đơn), ông Nguyễn Quang V (Bị đơn). Hiện tại cụ T1 sống cùng gia đình ông Nguyễn Quang P.
Cụ C và cụ T1 có thửa đất diện tích 1.357m² tại khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Khi cụ C còn sống, hai cụ có chia tách thửa đất thành 03 phần cho gia đình 03 người con trai (chia thành các thửa số 258, 217 và 239), nhưng không có văn bản gì, chỉ phân chia đất bằng miệng. Gia đình bà Trần Thị H quản lý sử dụng thửa đất số 258. Gia đình ông Nguyễn Quang P quản lý, sử dụng thửa đất số 239. Gia đình ông Nguyễn Quang V quản lý, sử dụng thửa đất số 217. Giữa thửa đất nhà ông P và ông V có một lối đi nối từ nhà bà H tới ngõ ra đường N.
Năm 2001, UBND thành phố B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho gia đình bà H thửa đất 258 với diện tích 322m²; cấp giấy cho gia đình ông P (bà L vợ ông P đứng tên) thửa đất 239 với diện tích 409m²; cấp giấy cho gia đình ông V thửa đất 217 với diện tích 626m². Theo các Giấy chứng nhận này và bản đồ địa chính năm 2001 thì không thể hiện có lối đi từ nhà bà H ra đường ngõ Nguyễn Thủ T2 và thửa đất 258 nhà bà H cũng không có lối đi ra ngõ.
Sau khi được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ, đến năm 2015 gia đình ông V xây nhà thì mới xây tường ngăn cách phần đất được sử dụng với những thửa đất liền kề. Sau đó, gia đình ông P phá bức tường phía trước nhà, sát lối đi, để xây tường lùi về phía tường nhà ông V và xảy ra tranh chấp ngõ đi. Ông P có đề nghị chừa ra một phần diện tích đất rộng khoảng 2m để làm ngõ đi chung nhưng bà H không chấp nhận.
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 05/7/2021, Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là bà Trần Thị H trình bày:
Khi cụ C làm thủ tục tặng cho đất cho các con không có văn bản gì, chỉ phân chia đất bằng miệng. Ở giữa thửa đất diện tích 1.357m² có 01 cái ao, sau đó khi chia đất thành 03 phần cho 03 người con trai thì một phần ao thuộc ngõ đi chung, phần còn lại bố mẹ bà đã chia tiếp cho 03 người con trai. Phần ngõ đi có một phần ao, sau đó gia đình bà đã phải tân lấp để được ngõ đi như bây giờ.
Ngõ đi chung được sử dụng ổn định từ năm 1989, lúc đó cụ C vẫn còn khỏe. Đến năm 1997, cụ C chết. N1 đi chung hiện tại có diện tích rộng khoảng gần 4m, ở giữa nhà bà và nhà ông P, giáp đất nhà ông V. Ngõ đi chung không được thể hiện trên bản đồ địa chính. Hiện tại ngõ đi chung này được ghi nhận một phần là 10,5m² thuộc thửa đất nhà ông V; một phần là 62,2m² thuộc thửa đất nhà ông P. Thời điểm năm 2020 nhà bà H có sửa sang tân lấp lại ngõ thì gia đình ông P không cho bà làm và nói rằng phần diện tích đất đó thuộc quyền sử dụng của nhà ông P, lúc đó bà lên địa chính xã để xác nhận thì mới biết được phần diện tích ngõ đi chung nằm trong thửa đất của nhà ông P và nhà ông V. Tại thời điểm đó con trai ông P định xây kín đất nhà bà lại, phá bức tường ngăn cách giữa phần đất ông P đang trực tiếp quản lý sử dụng với lối đi chung. Vì vậy, các bên đã phát sinh tranh chấp. Ngoài phần diện tích lối đi 72,7m² đang tranh chấp này gia đình bà không còn lối đi nào khác vào thửa đất của gia đình bà.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy chứng quyền sử dụng đất 03 thửa đất số 258, tờ bản đồ số 13, diện tích 322m² mang tên hộ ông Nguyễn Minh Q (chồng bà H); thửa đất số 239, tờ bản đồ số 13, diện tích 409m² mang tên hộ bà Nguyễn Thị Minh L (vợ ông P); thửa đất số 217, tờ bản đồ số 13, diện tích 626m² mang tên hộ ông Nguyễn Quang V và ghi nhận diện tích đất sử dụng làm lối đi chung là 72,7m² là của nhà bà H và nhà ông P.
Bị đơn đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của anh P1, cụ T1, bà L, chị L1 là ông Nguyễn Quang P trình bày:
Khoảng những năm 2000, huyện T có chính sách cấp GCNQSDĐ cho toàn bộ các hộ gia đình có đất. Toàn bộ phần lối đi chung đang tranh chấp là đất nằm trong thửa đất của hộ gia đình nhà ông đã UBND huyện T cấp GCNQSDĐ năm 2001. Tại bản đồ địa chính không thể hiện ngõ đi chung của 03 thửa đất sau chia tách.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H đề nghị hủy GCNQSDĐ 03 thửa đất số 258, tờ bản đồ số 13, diện tích 322m²; thửa đất số 239, tờ bản đồ số 13, diện tích 409m²; thửa đất số 217, tờ bản đồ số 13, diện tích 626m² và ghi nhận diện tích sử dụng làm lối đi chung giữa gia đình bà Trần Thị H và gia đình ông khoảng 60m² vào GCNQSDĐ của các hộ, ông không đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quang V đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H6 trình bày:
Khoảng những năm 2000, UBND huyện T có chính sách cấp GCNQSDĐ cho toàn bộ các hộ gia đình có đất. Sau khi được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ. Toàn bộ phần lối đi chung đang tranh chấp là đất nằm trong thửa đất của hộ gia đình nhà ông P đã UBND huyện T cấp GCNQSDĐ năm 2001. Tại bản đồ địa chính không thể hiện ngõ đi chung của 03 thửa đất sau chia tách.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H đề nghị hủy GCNQSDĐ 03 thửa đất số 258, tờ bản đồ số 13, diện tích 322m²; thửa đất số 239, tờ bản đồ số 13, diện tích 409m²; thửa đất số 217, tờ bản đồ số 13, diện tích 626m² và ghi nhận diện tích sử dụng làm lối đi chung giữa gia đình bà Trần Thị H và gia đình ông P khoảng 60m² vào GCNQSDĐ của các hộ, anh không đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thành phố B: cung cấp cho Tòa án số mục kê, hồ sơ kỹ thuật thửa đất, sổ địa chính, trích lục bản đồ địa chính của 03 thửa đất số 258, thửa đất số 239, thửa đất số 217 cùng tờ bản đồ số 13 tại khu T, phường K, thành phố B và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật,
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 220, Điều 227, Điều 235, Điều 262, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 107, Điều 16, Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 166, Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H7.
- Xác nhận diện tích 72,7m² đất được xác định bởi các điểm (A; B; C; D; E) là lối đi chung của nhà bà Nguyễn Thị H7 và nhà ông Nguyễn Quang P. (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Hủy Giấy chứng quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất gồm:
- Thửa đất số 258, tờ bản đồ số 13, diện tích 322m² mang tên hộ ông Nguyễn Minh Q;
- Thửa đất số 239, tờ bản đồ số 13, diện tích 409m² mang tên hộ bà Nguyễn Thị Minh L;
- Thửa đất số 217, tờ bản đồ số 13, diện tích 626m² mang tên hộ ông Nguyễn Quang V cùng tọa lạc tại khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết, chỉnh lý biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/01/2024, bị đơn ông Nguyễn Quang V có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm với nội dung không huỷ Giấy chứng nhận của gia đình ông V vì việc cấp giấy cho gia đình ông V không liên quan đến diện tích ngõ đi giữa gia đình ông P và gia đình bà H7.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Quang V giữ nguyên nội dung kháng cáo; người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là bà Trịnh Thị H1 đề nghị bác kháng cáo của ông Nguyễn Quang V; ông Nguyễn Quang P xác định ông không kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Quang V, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn là bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Quang P và ông Nguyễn Quang V phải trả lại 72,7m² tại khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh làm ngõ đi chung của nhà bà và nhà ông Nguyễn Quang P. Trước khi thụ lý, UBND phường K đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Ông P và ông V có địa chỉ tại thành phố B và đối tượng là bất động sản có tranh chấp tại thành phố B nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thụ lý vụ án ngày 08/11/2021 và xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất là đúng quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, đương sự có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định pháp luật tại Điều 34, Điều 37 BLTTDS, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Ngày 04/01/2024, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án. Ngày 08/01/2024, bị đơn ông Nguyễn Quang V có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm là đúng thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm đối với vụ án này là đúng quy định pháp luật.
[3] Về nội dung: Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc của 03 thửa đất số 258, tờ bản đồ số 13, diện tích 322m²; thửa đất số 239, tờ bản đồ số 13, diện tích 409m² và thửa đất số 217, tờ bản đồ số 13, diện tích 616m² là của vợ chồng cụ Nguyễn Quang C, cụ Nguyễn Thị T1 tặng cho 03 người con trai là Nguyễn Minh Q (chồng của bà Trần Thị H), Nguyễn Quang V và Nguyễn Quang P. Việc tặng cho không có văn bản, chỉ phân chia đất bằng miệng.
[4] Các đương sự cũng thừa nhận giữa thửa đất số 217 nhà ông V và thửa đất số 239 nhà ông P có một lối đi nối từ nhà bà H ông Q ra đường ngõ Nguyễn Thủ T2. Hiện nay nhà bà H không có lối đi nào khác. Bà H cho rằng đây là ngõ đi chung của gia đình bà với gia đình ông P. Ngõ đi này hình thành và sử dụng ổn định từ năm 1989 và có chiều rộng khoảng gần 4m, tổng diện tích khoảng 72,7m². Chị Nguyễn Thủy L1, anh Nguyễn Văn H6 (con gái, con trai ông P), anh Nguyễn Văn T (con trai ông V) và cụ Nguyễn Thị T1 cũng có lời trình bày thừa nhận “hộ ông Q bà H không có lối đi ra ngõ nhưng trên thực tế chúng tôi vẫn để một khoảng đất diện tích khoảng 100m² (phía trước nhà ông P và phía sau nhà ông V) để gia đình ông Q bà H đi ra ngõ chung.... khi cải tạo, sữa chữa, tân sân, vẫn thống nhất bớt lại một phần đất làm lối đi cho thửa đất của ông Q, chiều rộng lối đi này là 03m nhưng bà H không chấp nhận” (BL 160, 163, 171, 173). Chị Nguyễn Thủy L1 (con gái ông P) và cụ Nguyễn Thị T1 còn thừa nhận trước đây lối đi rộng khoảng gần 5m (BL 163, 160).
[5] Lời khai của những người làm chứng là ông Nguyễn Quý K (BL 80), Nguyễn Văn Q1 (BL 79), Dương Thị Đ (BL 78), Nguyễn Quang X (BL77) thể hiện ngõ đi trên do cụ C khi còn sống mở lối và nhà ông P, ông Q bà H sử dụng ổn định từ năm 1989. Nhà ông V có lối đi khác.
[6] Tại biên bản làm việc với ông Ngô Văn H8 - Công chức địa chính phường K cho biết: “Tại bản đồ năm 1985 thể hiện thửa đất số 243, diện tích 289m² (nay là thửa đất số 258, tờ bản đồ số 13, diện tích 322m² mang tên hộ ông Nguyễn Minh Q) có 01 ngõ đi ra hướng Đông. Còn thửa đất số 232, diện tích 943m² (nay được tách thành 02 thửa là thửa đất số 239, tờ bản đồ số 13, diện tích 409m² mang tên hộ bà Nguyễn Thị Minh L và thửa đất số 217, tờ bản đồ số 13, diện tích 626m² mang tên hộ ông Nguyễn Quang V) có 01 ngõ đi ra hướng Tây - là ngõ đi đang tranh chấp hiện nay. Hiện nay, tại bản đồ địa chính năm 2002 thì thửa đất số 258 không còn ngõ đi ra hướng Đông, phần ngõ đi này đã được cấp vào thửa đất số 259, tờ bản đồ số 13, diện tích 519m²".
[7] Năm 2001, UBND xã K (nay là phường K) đã thuê Trung tâm kỹ thuật địa chính Bắc Ninh về để đo vẽ và lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình trên địa bàn phường K trong đó có hộ gia đình ông Q, ông V và ông P. UBND phường K xác nhận tại thời điểm đó các hộ gia đình đã tự kê khai, ký giáp ranh và làm các thủ tục cấp GCNQSDĐ.
[8] Như vậy, có căn cứ xác định ngõ đi đang tranh chấp được hình thành từ năm 1989. Quá trình sử dụng đất, các hộ sử dụng ổn định, liên tục từ đó cho đến năm 2020 thì xảy ra tranh chấp. Tuy nhiên do quá trình dẫn đạc, đo đạc để lập bản đồ địa chính đã có sai sót, nhầm lẫn dẫn đến một phần diện tích ngõ đi này được cấp vào GCNQSDĐ cho hộ ông P và một phần cấp vào GCNQSDĐ của hộ ông V; còn lối đi nhỏ đi ra hướng Đông thì cấp vào GCNQSDĐ cho hộ ông Nguyễn Quang X (thửa số 259) do đó dẫn đến thửa đất của gia đình bà H bị bao bọc bởi các thửa đất xung quanh, không có lối đi ra.
[9] Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ (BL 117) và Bản trích đo hiện trạng các thửa đất (BL 201) thì lối đi đang tranh chấp có diện tích 92m² và nằm trên cả hai thửa đất số 217 (nhà ông V) và thừa 239 (nhà ông P). Tuy nhiên bà H chỉ yêu cầu xác định lối đi chung có diện tích là 72,7m². Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xác định diện tích lối đi chung đang tranh chấp 72,7m² là ngõ đi chung giữa gia đình ông P và gia đình ông Q bà H là đúng quy định tại Điều 175, Điều 236 và Điều 254 Bộ luật Dân sự 2015 và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 03 thửa đất số 258, tờ bản đồ số 13, diện tích 322m² mang tên hộ ông Nguyễn Minh Q; thửa đất số 239, tờ bản đồ số 13, diện tích 409m² mang tên hộ bà Nguyễn Thị Minh L; thửa đất số 217, tờ bản đồ số 13, diện tích 626m² mang tên hộ ông Nguyễn Quang V là có căn cứ.
[10] Sau khi Bản án sơ thẩm có hiệu lực, bị đơn ông Nguyễn Quang P và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không kháng cáo. Chỉ có bị đơn ông Nguyễn Quang V kháng cáo vì cho rằng việc huỷ Giấy chứng nhận của gia đình ông là không đúng. Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự vẫn thừa nhận giữa các hộ có một lối đi chung, chỉ là không thống nhất được diện tích của lối đi. Bản thân ông Nguyễn Quang V cũng thừa nhận có lối đi nhưng cho rằng đó là lối đi tranh chấp giữa gia đình ông P và gia đình bà H, gia đình ông V không liên quan vì gia đình ông V có lối đi riêng, nên việc huỷ giấy của gia đình ông là không đúng. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cả 03 hộ gia đình ông P, ông V, ông Q bà H đều không thể hiện có diện tích ngõ đi và có sự sai sót về số liệu cấp giấy, có nhầm lẫn dẫn đến một phần diện tích ngõ đi này được cấp vào GCNQSDĐ cho hộ ông P và một phần cấp vào GCNQSDĐ của hộ ông V. Do đó, việc huỷ cả 03 Giấy chứng nhận, trong đó có Giấy chứng nhận của gia đình ông V là cần thiết. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quang V về việc không đồng ý việc huỷ Giấy chứng nhận của gia đình ông V.
[11] Đối với phần diện tích ngõ đi đã cấp vào GCNQSDĐ của hộ gia đình ông V, hiện trạng sử dụng ông V đã xây phần tường bao lùi vào so với diện tích được cấp là 9,16m² (được thể hiện ở các điểm 20-19-16-17-18 theo sơ đồ đo đạc). Do đó, Toà án cấp sơ thẩm không buộc gia đình ông V tháo dỡ công trình trên đất của nhà ông V để trả lại diện tích đất làm ngõ đi và xác định phần ngõ đi chung của hộ gia đình bà H và hộ ông P được tính từ mép tường bao nhà ông V tiến sang phần đất nhà ông P thể hiện ở các điểm (A;B;C;D;E theo sơ đồ đo đạc) là phù hợp.
[12] Về án phí: Ông Nguyễn Quang V là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bác kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Quang V; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DSST ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Về án phí: Ông Nguyễn Quang V được miễn án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh |
Bản án số 182/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy gcnqsdđ
- Số bản án: 182/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy GCNQSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, Yêu cầu hủy GCNQSDĐ giữa Trần Thị H và Nguyễn Quang P
