Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181A/2024/HSST

Ngày: 05/09/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
  • 1. Ông Nguyễn Văn Hành.
  • 2. Ông Hoàng Văn Long.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên: Ông Bùi Nguyên Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 171/2024/HSST ngày 09 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN TRỌNG T, sinh năm 2002;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 80 tổ C, phường L, quận Đ, Hà Nội; Chỗ ở: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Trọng D và con bà Nguyễn Thị H; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/05/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T, thành phố Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 00 phút ngày 16/5/2024, Tổ Công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện T phối hợp với công an xã V, huyện T, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực xóm B, thôn Q, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội thì phát hiện Nguyễn Trọng T đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đeo BKS 18L1-511.77 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại lòng bàn tay trái của T có 01 túi nilong bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng. Tại chỗ, T khai nhận là ma túy “ke” Tuệ đang mang đi bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện. Tổ công tác đã lập biên bản quả tang, thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở Công an xã V giải quyết. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Wave màu xanh đeo BKS: 18L1-511.77; SM: 038423; SK: 036409 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng, bên trong lắp sim số 0795030436.

Kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể của Nguyễn Trọng T xác định: Tuệ âm tính với ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành trưng cầu giám định gói ma túy đã thu giữ của Nguyễn Trọng T khi bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 3650/KL-KTHS ngày 25/5/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận:

“Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,136 gam."

Cơ quan giám định đã sử dụng 0,114gam Ketamine trong tổng số 1,136 gam để làm mẫu giám định, còn lại 1,022 gam Ketamine hoàn trả cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện T.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Trọng T khai nhận: khoảng 18 giờ ngày 16/5/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh đeo BKS 18L1-51177 đi từ nhà đến khu vực chợ Q thuộc xã V, huyện T, thành phố Hà Nội tìm mua ma túy mục đích để bán kiếm lời. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilong bên trong có chứa ma túy “ke” với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cầm số ma túy mua được trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe máy đi tìm khách mua ma túy. Tuệ dự định sẽ bán cho khách có nhu cầu số ma túy trên với giá 3.000.000 đồng để hưởng lợi số tiền 1.000.000 đồng. Khi T di chuyển đến gần khu vực quán K2 và tôi thuộc thôn Q, xã V, huyện T thì bị Tổ công tác kiểm tra phát hiện cùng tang vật.

Đối với người đàn ông bán ma túy, do T khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Wave màu xanh đeo BKS: 18L1-511.77; SM: 038423; SK: 036409, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Trương Việt A (SN: 2000, HKTT: Thượng Kỳ, N, N, Nam Định). Khoảng 17 giờ ngày 16/5/224, T mượn chiếc xe trên của anh Việt A để đi mua đồ cá nhân. Anh Việt A không biết việc T mượn xe để đi mua ma túy. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng: không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho anh Việt A chiếc xe máy trên. Anh Việt A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 169/CT-VKS-TT ngày 09 tháng 08 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Nguyễn Trọng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Trọng T từ 26 đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tich thu tiêu huỷ 1.022 gam ma tuý Ketamine (còn lại sau giám định);
  • + Trả lại bị cáo T 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, bên trong lắp sim số 0795030436.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Trọng T giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân an huyện Thanh Trì thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Hồi 19 giờ 00 phút ngày 16/5/2024 tại đoạn đường liên thôn gần quán karaoke B và Tôi thuộc thôn Q, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội, khi Nguyễn Trọng T đang có hành vi tàng trữ 1,136 gam ma túy loại Ketamine tại lòng bàn tay trái mục đích bán kiếm lời thì bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trọng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có có căn cứ Pháp lý.

[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Ma túy là mối nguy hiểm của xã hội, bởi nó không chỉ là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức và lối sống mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là tác nhân trực tiếp làm cho tệ nạn ma túy phát triển. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và làm bài học răn đe người khác.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[6]. Về vật chứng:

Đối với 1.022 gam ma tuý K (còn lại sau giám định) là chất Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, bên trong lắp sim số 0795030436 thu giữ của bị cáo, xét đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Wave màu xanh đeo BKS: 18L1-511.77; SM: 038423; SK: 036409, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Trương Việt A cho T mượn. Anh Việt A không biết việc T mượn xe để đi mua ma túy. Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho anh Việt A chiếc xe máy trên. Anh Việt A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về dân sự. Tòa không xét.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, T khai không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể và đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Tòa không xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[9].Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Trọng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Trọng T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/05/2024.

[2]. Về vật chứng

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Trần Huy V, chữ ký của cán bộ Nguyễn Văn H1, chữ ký của Nguyễn Trọng T (theo quyết định chuyển vật chứng số 128 ngày 09 tháng 08 năm 2024 bên trong có 1.022 gam ma tuý Ketamine)
  • + Trả lại bị cáo T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, bên trong lắp sim số 0795030436;

(Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/08/2024):

[3]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Lê Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181A/2024/HSST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 181A/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger