|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 181/2024/HS-PT
Ngày: 31-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm.
Ông Nguyễn Chí Dũng.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16, 29 và ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Tấn T cùng với các bị cáo khác, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Ban án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Các bị cáo kháng cáo:
-
Nguyễn Tấn T (T), sinh năm 1992 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn S, năm sinh 1959 và con bà Nguyễn Thị L, năm sinh 1964 (đã ly hôn); vợ, con: chưa có.
- - Tiền sự: Chưa có.
- - Tiền án: Có 04 tiền án:
- + Ngày 30/11/2010, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt Nguyễn Tấn T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/12/2011, đã thi hành xong phần án phí, trách nhiệm bồi thường dân sự ngày 07/7/2011.
- + Ngày 21/01/2013, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt Nguyễn Tấn T 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Đã thi hành xong phần án phí ngày 02/5/2013. Đối với phần trách nhiệm bồi thường dân sự bị hại chưa làm đơn yêu cầu thi hành án (đến nay đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án).
- + Ngày 16/5/2013, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt Nguyễn Tấn T 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (thuộc trường hợp tái phạm). Tổng hợp với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2013/HSST ngày 21/01/2013, Nguyễn Tấn T phải chấp hành hình phạt 08 năm 06 tháng tù. Đã thi hành xong phần án phí ngày 31/7/2013.
- + Ngày 25/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt Nguyễn Tấn T 03 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” (thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm). Tổng hợp với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2013/HSST ngày 16/5/2013, Nguyễn Tấn T phải chấp hành hình phạt 09 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/5/2022. Thi hành xong phần án phí hình sự ngày 03/6/2015. Chưa được xóa án tích.
- - Tạm giữ: Từ ngày 07/12/2023 đến ngày 13/12/2023.
- - Tạm giam: Từ ngày 13/12/2023.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Phan Nhựt D (Út 2A) sinh năm 1987 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: B, Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn A (chết) và con bà Lê Thị B, năm sinh 1947; có vợ và có 02 con; tiền án: chưa có; tiền sự: Chưa có. Tạm giữ: Từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/02/2024. Tạm giam: Từ ngày 26/02/2024. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Tấn T1 ( N, Nhí M), sinh năm 1996 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: M, Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1966 (chết) và con bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1972 (chết); có vợ và có 01 con; tiền án: không; tiền sự: không;
- - Nhân thân:
- Ngày 29/4/2014, Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt Nguyễn Tấn T1 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/2014. Đã thi hành xong phần án phí ngày 07/11/2014. Đối với trách nhiệm bồi thường dân sự, bị hại chưa làm đơn yêu cầu thi hành án (đến nay đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án). Không tính án tích do khi phạm tội T1 chưa đủ 18 tuổi.
- - Tạm giữ: Từ ngày 21/01/2024 đến ngày 24/01/2024.
- - Tạm giam: Từ ngày 24/01/2024. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Phan Văn H, sinh năm 2003 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Số A, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Phan Văn T3, sinh 1973 và con bà Tạ Thị Đ, sinh năm 1974; vợ, con chưa có; tiền án: Chưa; tiền sự: Chưa; tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Nguyễn Minh P, sinh năm 2002 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: Phòng số 2, Nhà T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước Đ1, sinh năm 1976 và con bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1977; có vợ; con chưa có; tiền án: Chưa; tiền sự: Chưa; tạm giữ: Không, tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Trần Quang T4 (Cọp), sinh năm 1998 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Số D, Trần Văn V1, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trường S1, sinh năm 1977 và con bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1978 (đã ly hôn); vợ, con chưa có; tiền án: Chưa; tiền sự: Chưa; tạm giữ: Không, tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Trần Minh H1, Lê Ngọc A1 không kháng cáo; bị cáo Phan Ngọc T5 có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị C1, Nguyễn Vũ Ái V2 không kháng cáo và Bản án sơ thẩm không bị Viện kiểm sát kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong vụ án này gồm có 02 nhóm:
- - Nhóm của Trần Minh H1 gồm: Trần Minh H1 (Hoài Quái T), Nguyễn Tấn T (R), Phan Văn H, Lê Ngọc A1 (A), Trần Quang T4 (Cọp), Phan Ngọc T5 (C), Nguyễn Minh P, Nguyễn Quang T6 (Đốm) và 02 thanh niên.
- - Nhóm của Phan Nhựt D (Út 2A) gồm: Phan Nhựt D, Nguyễn Tấn T1 (Nhí mít, Nhí em), Beo, H2 (chưa xác định họ tên địa chỉ) và 02 thanh niên.
Khoảng 20 giờ, ngày 13/11/2023, Trần Minh H1 (Hoài Quái T) cùng với Trần Lê Yến T7 (vợ của H1), Lê Ngọc A1 (A), Trần Thị Ngọc T8 (vợ của A1), Phan Văn H và Trần Quang T4 (Cọp) uống bia tại Quán Ốc 96 trên đường H, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Sau đó cả nhóm đi đến Quán B2 trên đường L, Khóm B, Phường A, thành phố S tiếp tục uống bia, đến khoảng 03 giờ 15 phút ngày 14/11/2023 thì kết thúc.
Trên đường đi về gần đến B thuộc Khóm A, Phường C, Phan Văn H nhìn thấy Phan Nhựt D (Út B) và Nguyễn Tấn T1 (N, N) đang đi bộ trên đường. D thấy H nhìn mình thì hỏi H: “Mày muốn gì?”. H nói với D: “Cho mày 15 phút”. H chạy xe đi được 01 đoạn rồi quay lại thì nhìn thấy D; T1; B1, H2 và 02 người thanh niên (chưa xác định được họ tên, địa chỉ); Nguyễn Thị Ngọc T9 (vợ của D) đứng đợi, trong đó T1 cầm 01 con dao bấm, B1 và H2 mỗi người cầm 01 con dao tự chế, T9 (vợ của D) cầm 01 vỏ chai bia, còn Võ Thị Mỹ H3 (vợ của T1) và một số người khác đứng xem trên vĩa hè nên H tiếp tục bỏ chạy đi 01 đoạn rồi dừng lại điện thoại lần lượt cho H1, A1 (A), T4 (Cọp) thông báo việc H vừa mới gây mâu thuẫn cự cãi với 02 người thanh niên lạ mặt tại Bến phà P, thành phố S và có một nhóm thanh niên mang theo nhiều hung khí ra chặn đường; đồng thời nhờ H1, A1, T4 đến giải quyết thì được cả 03 đồng ý.
Khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, T4 điều khiển xe mô tô biển số 66S1-415.91 chạy đến thì gặp H đang đậu xe tại trước quán Ố, sau khi nghe H kể lại sự việc thì T4 cùng với A1 điều khiển xe mô tô biển số 66L1-785.52 chở T9 (vợ của A1) đến, cả 04 người chạy đến cách Bến phà P, thành phố S khoảng 20m thì nhìn thấy nhóm người của D đang đứng đợi, để nói chuyện.
Lúc này D giật lấy cây dao tự chế của B1 chém trúng vào đầu xe mô tô của T4 01 cái làm vỡ một đường trên đầu đèn xe mô tô, thì A1 can ngăn D lại, nên T4 và T9 (vợ của A1) dắt 02 xe mô tô đi trở lại một đoạn khoảng 5m và dựng xe trên đường đứng chờ, còn A1 tiếp tục đứng nói chuyện với D.
Cùng lúc này, H1 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, loại Elantra, màu trắng, biển số 66A-206.52 chạy đến nơi nhóm của D đang đứng đợi, H1 lấy 01 khẩu súng ngắn dưới gầm ghế trước bên phải cầm trên tay, mở cửa xe đi xuống la lớn tiếng thì D đi đến chụp lấy tay phải đang cầm súng của H1, đưa đầu súng dí vào trán của D thách thức H1 bắn, thì T1, B1 xông đến cùng giằng co với H1, nên T9 (vợ của D) và Nguyễn Minh L1 (Xí Lượm) cùng với Phạm Thị Phương T10 (vợ của L1) đi ngang qua, nên L1 dừng lại chạy vào can ngăn.
Trong lúc giằng co, D giật được khẩu súng và té ngã xuống đường, nên D đưa khẩu súng cho L1 cầm. H1 yêu cầu D trả lại nhưng D và B1 đề nghị H1 ngày hôm sau phải dắt H ra gặp D nói chuyện, thì D và B1 sẽ trả lại súng cho H1.
Do không thể lấy lại súng và nhóm của D đông, cầm nhiều hung khí nên H1 và A1 cùng lên xe ô tô đi về nơi ở của A1 tại Nhà T, khóm T, phường A, thành phố S.
Sau đó, L1 đưa lại khẩu súng cho D đem cất giấu vào bụi cây gần nhà, xong nhóm của D cũng bỏ đi về nhà.
Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, khi về đến nhà trọ Tuấn P2 7, do không muốn dẫn H ra theo yêu cầu của D và B1, nên H1 tiếp tục điện thoại cho B1 đòi lại khẩu súng, nhưng B1 không đồng ý và vẫn giữ yêu cầu H1 sáng hôm sau phải dẫn H ra gặp cả nhóm nói chuyện thì mới trả lại súng cho H1. Tức giận về việc D và B1 không chịu trả lại khẩu súng, nên H1 lần lượt điện thoại cho H, T4, Phan Ngọc T5; H điện thoại rủ thêm Nguyễn Minh P, T5 điện thoại rủ thêm Dương Hồ H4, đồng thời H1 nhờ T4 đi đến nhà của Nguyễn Quang T6 (Đốm) để kêu Quang T6 và Nguyễn Tấn T (T) đang ở tại nhà của Quang T6 cùng đến để bàn việc đi gặp nhóm của D, B1 để đòi lại khẩu súng cho H1, được tất cả đồng ý. Ngoài ra, trong nhóm đi còn có 02 người thanh niên (chưa xác định được họ tên, địa chỉ, do ai gọi đến), tất cả lần lượt đến nhà trọ để gặp H1 và A1.
Tại nhà trọ T13, H1 kể lại sự việc cho cả nhóm cùng nghe và đề nghị cả nhóm đi cùng với H1 đến gặp D và B1 để lấy lại khẩu súng, đồng thời H1 nhờ Quan T11 (Đốm) đến sáng đi gặp nhóm của D lần nữa để nói chuyện giải hòa cho H, tất cả đồng ý.
Lúc này, A1 lấy trong phòng trọ 02 cây dao tự chế (mã tấu) dài khoảng 60cm, lưỡi màu đen, cán màu đen, lưỡi rộng khoảng 4cm, mũi nhọn mang ra đưa cho H1 cầm 01 cây; còn H cầm 01 cây dao tự chế dài khoảng 60cm đựng trong bao da màu đen; P lấy trước nhà trọ của A1 cầm theo 01 con dao nhỏ, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán bằng nhựa màu đen, dài khoảng 30cm; T5 cầm 01 cây dao tự chế dài khoảng 60cm, có vỏ màu đen và H4 cầm 01 cây dao tự chế. Tất cả nhóm tổng cộng 11 người, cùng điều khiển 06 xe mô tô đi đến Khu dân cư K, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp để tìm nhóm của D nhưng không gặp. H1 điện thoại cho B1 nhưng B1 không nghe máy, nên H1, A1, H, T4, P cùng quay về nhà trọ T13; Quang T6, Tấn T đi về nhà Quang T6 tại Khóm A, Phường D, thành phố S; T5 chở H4 về nhà rồi chạy đến bờ kè Phường D, thành phố S; còn 02 người thanh niên (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) cũng bỏ đi.
Cùng lúc này, Bùi Phú T12 (B) đang trên đường đi mua thức ăn thì nhìn thấy nhóm của H1 đi vào Khu dân cư nên T12 chạy đến nhà của T1 thông báo cho T1 biết, nên T1 (N) kể lại cho T12 nghe toàn bộ sự việc.
Khi nhóm của H1 về đến Nhà trọ T13, H tiếp tục điều khiển xe mô tô chở T4; H1 điều khiển xe ô tô biển số 66A-206.52 chở A1, P tất cả cùng đi qua Phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp để gặp Quang T6, Tấn T và T5 để bàn bạc việc đi tìm gặp nhóm của D đòi lại súng. Trên đường đi, T1 điện thoại cho H1 hỏi lý do vì sao nhóm của T1 đã hẹn đến sáng sẽ trả súng cho H1 nhưng nhóm của H1 lại đến Khu dân cư tìm nhóm của T1 để làm gì, thì H1 không nói lý do và kêu T1 hỏi B1 rồi tắt máy. Sau đó, B1 điện thoại cho H1 nhưng H1 không nghe máy.
Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, B1 điện thoại cho D thông báo việc H1 yêu cầu nhóm của D mang khẩu súng đến trước cổng Trường Cao Đẳng N1 thuộc Khóm A, Phường C, thành phố S để trả lại ngay cho H1, nên D tiếp tục điện thoại kêu T1 đem khẩu súng đến nơi hẹn để trả cho H1. T1 (N) và T12 đi đến nơi D giấu súng để lấy, thì T12 đề nghị T1 đưa súng cho T12 để T12 trả lại cho H1 do T12 và H1 có quen biết nhau, nên T1 đưa súng cho T12 giữ.
Khi H1, A1, H, P, T4 chạy đến bờ kè gần hẻm H thuộc Khóm A, Phường D, thành phố S thì gặp Quang T6, Tấn T và T5 đứng đợi, cả nhóm 08 người tiếp tục nói chuyện thì Quang T6 đề nghị nếu đến sáng nhóm của D không trả lại súng cho H1 thì Quang T6 sẽ đến gặp D nói chuyện lấy lại súng cho H1.
Trong lúc nhóm của H1 đang bàn bạc thì B1 điện thoại cho H1 kêu H1 đến trước cổng Trường Cao Đẳng N1 thuộc Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, nhóm của B1 sẽ trả lại súng cho H1, H1 mở loa ngoài của điện thoại cho cả nhóm cùng nghe, tất cả đồng ý cùng đi với H1 đến nơi hẹn. Lúc này, Tấn T chạy ra bờ kè sông T lấy 01 cây kiếm Nhật có vỏ gỗ màu nâu, dài khoảng 01 mét do Tấn T mua và cất giấu trước đó đưa cho H1 cầm, A1 mang theo 02 cây dao tự chế, H,T5, P mỗi người cũng mang theo 01 cây dao tự chế. T4 điều khiển xe ô tô biển số 66A-206.52 chở H1, A1, H, P, Tấn T còn Quang T6 điều khiển xe mô tô chở T5 chạy theo sau. Cũng trong thời gian này, B3 điều khiển xe mô tô chở D, T1 chở T12 cùng đi đến nơi hẹn, khi đi nhóm của D không mang theo hung khí gì. Khi nhóm của H1 đi đến trước cổng Trường cao đẳng N1 thì nhìn thấy nhóm của D đứng đợi. Khi T4 dừng xe ô tô lại thì D và T12 cùng đi đến đứng sát cửa xe bên phải, A1 mở kính của cửa xe xuống, T12 đưa khẩu súng cho A1 cất giấu gần cần số xe ô tô, xong cả nhóm mở cửa bước xuống xe. Lúc này, H cầm theo 01 cây dao, nhưng Quang T6 không đồng ý nên H để lại cây dao trên xe ô tô.
Cả nhóm của H1 đứng nói chuyện với nhóm của D khoảng vài phút, trong lúc nói chuyện, do tức giận việc D có thái độ thách thức với Quang T6 nên Tấn T chạy đến mở cửa sau xe ô tô rút lấy cây kiếm chạy đến rượt chém về phía D, B1 thì Quang T6 chạy đến can ngăn, kéo Tấn T lại, còn D bỏ chạy về hướng cầu S. Thấy vậy, T5 điều khiển xe mô tô chở B1 chạy về nhà.
Tấn Thanh (T) tiếp tục cầm kiếm rượt đuổi theo D thì H1, A1, P, H chạy đến xe ô tô, mỗi người lấy 01 cây dao đuổi theo Tấn T và D. Nhưng do D đã chạy mất, nên H1 kêu tất cả đừng đuổi theo và quay trở lại. H1, A1, Quang T6, P, Tấn T, H cùng lên xe ô tô, T4 điều khiển xe chở cả nhóm chạy về bờ kè gần hẻm H, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Tất cả mang hung khí xuống xe, H1 kiểm tra thấy khẩu súng không bị gãy nên nhặt 01 bịch nylon màu đen trên đường, bỏ khẩu súng vào và đem tất cả hung khí cất giấu ở bụi cỏ tại bờ kè gần nhà của Quang T6.
Sau đó, cả nhóm tiếp tục đi bộ đến quán cà phê gần bờ kè ngồi nói chuyện, lúc này, thấy có nhiều người dân tập thể dục ở bờ kè, sợ bị phát hiện nên H1 kêu H đến nơi cất giấu súng mang đi cất giấu ở nơi khác, nên H mang bịch nylon đựng khẩu súng mang đi cất giấu vào bụi cỏ tại khu đất phía sau hộ số F, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, rồi quay lại quán cà phê.
Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, nhận được thông tin từ quần chúng nhân dân về việc Trần Minh H1 cùng nhóm người tụ tập chuẩn bị hung khí đánh nhau, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đến mời cả nhóm về trụ sở làm việc và tiến hành bắt giữ Trần Minh H1.
Quá trình điều tra, Phan Ngọc T5, Nguyễn Tấn T, Phan Nhựt D, Nguyễn Tấn T1 bỏ trốn khỏi địa phương.
Đến ngày 07/12/2023 bắt được Nguyễn Tấn T, các ngày 21/01/2024 và 28/01/2024 lần lượt bắt được Nguyễn Tấn T1, Phan Ngọc T5 theo Quyết định truy nã, riêng Phan Nhựt D đến ngày 23/02/2024 ra đầu thú.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Đồng Tháp tiến hành kiểm tra xe ô tô biển số 66A - 206.52, phát hiện, tạm giữ gồm:
- - 01 túi da hình chữ nhật màu xám đen, phía trước có dòng chữ “YVAN”.
- - 01 bao da màu đen có nút bấm bằng kim loại màu vàng, phía ngoài có in dòng chữ “XYL".
- - 25 viên đạn bằng kim loại màu vàng đồng.
- - Camera hành trình của xe ô tô biển số 66A - 206.52, bằng nhựa màu đen xám, bên hông có dán giấy tròn màu vàng có in dòng chữ “Auto part”, có gắn thẻ nhớ, bên trong thẻ nhớ có chứa 92 tệp dữ liệu video trong thư mục DCIMA có tên từ “AVIA6835.avi đến AVIA6926.avi” và 92 tệp dữ liệu video trong thư mục DCIMB có tên từ “AVIA6835.avi đến AVIA6926.avi”.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục thu giữ gồm:
- - 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại, có thân màu vàng, tay cầm màu đen, phía bên phải của thân súng có dòng chữ “CMTH &WESS01V” và phía dưới thân súng gần hộp đạn có dòng chữ “MADE IN CHINA”, phía trên bên trái thân súng có dòng chữ và số “XYL221203223” và chữ “SMITH&WESSON, phía bên trái tay cầm súng có dòng chữ và số ‘ZP-5”, ổ đạn của súng là loại ổ xoay gồm 06 lỗ đạn, trong ổ đạn không có đạn.
- - 01 túi nylon màu đen, đã qua sử dụng (túi đựng khẩu súng).
- - 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, loại ELANTRA, màu trắng, biển số 66A - 206.52, xe đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng.
- - 01 USB có lưu giữ 92 tệp dữ liệu video trong thư mục DCIMA có tên từ “AVIA6835.avi đến AVIA6926.avi” và 92 tệp dữ liệu video trong thư mục DCIMB có tên từ “AVIA6835.avi đến AVIA6926.avi được trích xuất từ camera hành trình của xe ô tô biển số 66A-206.52 sau khi giám định.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, sim số 0932917968, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng của Trần Minh H1.
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno6 Z 5G, màu đen, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu đen, bên trong có gắn 02 sim điện thoại mạng mobifone có số 0764321704 và 0788807384, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng của Phan Văn H.
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno8, màu đen, kiểu máy CPH2461, ram 8.00GB, bên trong có gắn 01 sim điện thoại mạng mobifone có số 0908511417, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng của Nguyễn Quang T6.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, màu xanh, IMEI: 356715116615512, IMEI2: 3567151167503207, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng của Trần Quang T4.
- - 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng - đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng của Nguyễn Tấn T.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Đồng Tháp đã tiến hành khám xét nơi ở của Trần Minh H1 kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
Đối với các hung khí như: Kiếm N, dao tự chế, dao bấm,... các bị cáo và những đối tượng có liên quan đã chuẩn bị nhằm gây thương tích cho người khác hiện đã bỏ mất, không còn nên không thu hồi được.
Tại các Kết luận giám định số 1279/KL-KTHS, 1280/KL-KTHS cùng ngày 23/11/2023 và số 1303/KL-KTHS ngày 27/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- - 25 viên đạn thu giữ được gửi giám định đều là đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm, thuộc vũ khí thể thao.
- - Khẩu súng ngắn thu giữ được gửi giám định là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng.
- - Các tệp dữ liệu video lưu trong thẻ nhớ của camera hành trình gửi giám định không bị cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh. Đã trích xuất dữ liệu video lưu trong thẻ nhớ của camera hành trình từ ngày 13/11/2023 đến ngày 14/11/2023 và lưu vào USB.
Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:
- Đối với vật chứng, tài sản gồm:
- + 01 túi da hình chữ nhật màu xám đen, phía trước có dòng chữ “YVAN”;
- + 01 bao da màu đen có nút bấm bằng kim loại màu vàng, phía ngoài có in dòng chữ “XYL";
- + 25 viên đạn bằng kim loại màu vàng đồng;
- + 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại, có thân màu vàng, tay cầm màu đen, phía bên phải của thân súng có dòng chữ “CMTH &WESS01V” và phía dưới thân súng gần hộp đạn có dòng chữ “MADE IN CHINA”, phía trên bên trái thân súng có dòng chữ và số “XYL221203223” và chữ “SMITH&WESSON, phía bên trái tay cầm súng có dòng chữ và số ‘ZP-5”, ổ đạn của súng là loại ổ xoay gồm 06 lỗ đạn, trong ổ đạn không có đạn;
- - 01 túi nylon màu đen, đã qua sử dụng (túi đựng khẩu súng)
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, sim số 0932917968, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng
Thu giữ của Trần Minh H1 là vật chứng liên quan trong vụ án “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã chuyển các vật chứng nêu trên đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ xử lý theo thẩm quyền.
- Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, loại ELANTRA, màu trắng, biển số 66A - 206.52, xe đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng, qua xác minh xe ô tô trên thuộc sở hữu của bà Lê Thị C1 (mẹ vợ của Trần Minh H1), cho H1 mượn sử dụng, bà C1 không biết H1 sử dụng xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã hoàn trả xe cho bà C1 nhận lại xong.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno8, màu đen, kiểu máy CPH2461, ram 8.00GB, bên trong có gắn 01 sim điện thoại mạng mobifone có số 0908511417, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng của Nguyễn Quang T6 (Đốm) không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã hoàn trả cho ông Q T6 nhận lại xong.
- Đối với vật chứng, tài sản:
- + 01 Camera hành trình của xe ô tô biển số 66A - 206.52, bằng nhựa màu đen xám, bên hông có dán giấy tròn màu vàng có in dòng chữ “Auto part”, có gắn thẻ nhớ, bên trong thẻ nhớ có chứa 92 tệp dữ liệu video trong thư mục DCIMA có tên từ “AVIA6835.avi đến AVIA6926.avi” và 92 tệp dữ liệu video trong thư mục DCIMB có tên từ “AVIA6835.avi đến AVIA6926.avi”, bà Lê Thị C1 không yêu cầu nhận lại;
- + 92 tệp dữ liệu video trong thư mục DCIMA có tên từ “AVIA6835.avi đến AVIA6926.avi” và 92 tệp dữ liệu video trong thư mục DCIMB có tên từ “AVIA6835.avi đến AVIA6926.avi được trích xuất từ camera hành trình của xe ô tô biển số 66A-206.52 sau khi giám định, lưu trữ trong 01 USB là vật chứng của vụ án, cần tiếp tục bảo quản lưu hồ sơ làm căn cứ giải quyết vụ án.
- Đối với tài sản:
- + 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno6 Z 5G, màu đen, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu đen, bên trong có gắn 02 sim điện thoại mạng mobifone có số 0764321704 và 0788807384, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng của Phan Văn H;
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, màu xanh, IMEI: 356715116615512, IMEI2: 3567151167503207, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng của Trần Quang T4.
Các tài sản trên là phương tiện liên lạc các bị cáo sử dụng khi phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng - đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng của Nguyễn Tấn T không liên quan đến hành vi phạm tội, nên tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Bà Lê Thị C1 đã nhận lại xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, loại ELANTRA, màu trắng, biển số 66A - 206.52, không có yêu cầu gì. Đối với camera hành trình được gắn trên xe ô tô, bà C1 không yêu cầu nhận lại, không yêu cầu Trần Minh H1 bồi thường, nên không xem xét giải quyết.
- - Chị Nguyễn Vũ Ái M1 không yêu cầu Phan Nhựt D bồi thường thiệt hại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Nozza Grande, màu trắng, biển số 66S1-415.91, nên không xem xét giải quyết.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
- Căn cứ khoản 6 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Trần Minh H1, Nguyễn Tấn T cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Trần Minh H1 mức án 01 năm tù (Một năm tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 15/11/2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T mức án 01 năm tù (Một năm tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 07/12/2023.
- Căn cứ khoản 6 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T1 mức án 07 tháng tù (Bảy tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 21/01/2024.
- Căn cứ khoản 6 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phan Nhựt D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Phan Nhựt D mức án 09 tháng tù (Chín tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 23/02/2024.
- Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Phan Văn H, Lê Ngọc A1, Phan Ngọc T5, Nguyễn Minh P, Trần Quang T4 cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Phan Văn H mức án 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Lê Ngọc A1 mức án 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Phan Ngọc T5 mức án 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 29/01/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P mức án 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Trần Quang T4 mức án 03 tháng tù (Ba tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- - Ngày 23/5/2024, các bị cáo Nguyễn Tấn T, Phan Nhựt D kháng cáo với cùng nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
- - Ngày 22/5/2024, bị cáo Phan Văn H kháng cáo xin hưởng án treo.
- - Ngày 16/5/2024, bị cáo Nguyễn Minh P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.
- - Ngày 22/5/2024, bị cáo Trần Quang T4 kháng cáo xin hưởng án treo.
- - Ngày 23/5/2024, bị cáo Nguyễn Tấn T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đến ngày 17/7/2024, bị cáo Nguyễn Tấn T1 có đơn xin rút kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Tấn T, Phan Nhựt D, Phan Văn H, Nguyễn Minh P, Trần Quang T4 thừa nhận có hành vi chuẩn bị hung khi để nhằm gây thương tích là vi phạm pháp luật, thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp kết án các bị cáo cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật. Nay các bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Tấn T1 trình bày là bị cáo có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng đến ngày 17/7/2024 bị cáo đã có đơn xin rút kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có ý kiến là bị cáo vẫn tự nguyện rút kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm phân tích hành vi của các bị cáo, nêu các yếu tố cấu thành tội phạm và nhận định hành vi của các bị cáo Nguyễn Tấn T, Phan Nhựt D, Nguyễn Tấn T1, Phan Văn H, Nguyễn Minh P, Trần Quang T4 bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo T, D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo H, T4 kháng cáo xin hưởng án treo, bị cáo P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo T, D, H, T4 có nêu ra lý do hoàn cảnh khó khăn để xin giảm nhẹ, xin hưởng án treo nhưng không có cơ sở chứng minh, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo này.
Đối với bị cáo Nguyễn Minh P, Kiểm sát viên nhận định bị cáo có vai trò thứ yếu trong vụ án, khi kháng cáo có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương là hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động duy nhất nuôi cha, mẹ và vợ, nên đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và giảm cho bị cáo P từ 01 tháng tù đến 03 tháng tù.
Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T1 xin giảm nhẹ hình phạt, tuy nhiên bị cáo Nguyễn Tấn T1 tự nguyện rút đơn kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm, nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T1 theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Tấn T cho rằng bị cáo không muốn gây chiến với bên nhóm của bị cáo D, do nghĩ rằng bên nhóm của D phục kích nên mới mang hung khí theo phòng hờ. Vì D có những lời nói thách thức, nên bị cáo T có dùng kiếm N chém với về phía bị cáo D để cho D sợ chứ không có ý định gây thương tích cho D. Mục đích chém là chỉ để hù doạ D. Nay bị cáo rất hối hạn về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Tại phần tranh luận, các bị cáo Phan Nhựt D, Phan Văn H, Nguyễn Minh P, Trần Quang T4 không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều trình bày là rất ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện, biết là có lỗi nên xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Xét Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS - ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp kết án các bị cáo Nguyễn Tấn T, Phan Nhựt D, Nguyễn Tấn T1, Phan Văn H, Nguyễn Minh P, Trần Quang T4 về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[2.1] Bị cáo Nguyễn Tấn T (T): Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy bị cáo T có 04 tiền án về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Cướp giật tài sản”, “Cố ý gây thương tích”, “Trốn khỏi nơi giam” chưa được xoá án tích. Bị cáo nhiều lần chịu chế tài của pháp luật hình sự từ hành vi phạm tội của mình, lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức để trở thành người lương thiện, công dân có ích. Tuy nhiên bị cáo lại tiếp tục vi phạm pháp luật hình sự, thể hiện thái độ bất chấp các quy tắc xử sự đã được Nhà nước và xã hội công nhận. Hành vi của bị cáo thể hiện khi đến nhà trọ Tuấn P2 7, bị cáo được H1 rủ cùng tìm nhóm của D đòi lại súng, thì bị cáo đồng ý đi cùng nhóm của H1 và cầm theo hung khí là dao và cùng chở nhau đi tìm nhóm của D. Khi qua khu dân cư P, thành phố S không thấy nhóm của D thì cả nhóm về lại nhà trọ Tuấn P2 7. Sau đó bị cáo về khu vực bờ kè Phường D. Khi nhóm của D điện thoại cho bị cáo H1 hẹn gặp trước Trường Cao Đẳng N1 thuộc Phường C để trả súng, thì bị cáo Tấn T lấy kiếm nhật đem theo cùng nhóm H1 đến địa điểm hẹn. Khi nhóm D trả súng cho H1, cả hai nhóm tiếp tục cự cãi nhau, thì bị cáo dùng hung khí là kiếm N rượt đuổi chém nhóm của D nhưng chưa gây thương tích cho ai. Bị cáo Nguyễn Tấn T có 04 tiền án chưa được xoá án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên trong vụ án này bị cáo “thành khẩn khai báo”, nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo 01 năm tù. Tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tấn T.
[2.2] Bị cáo Phan Nhựt D (Út B): Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét hành vi của bị cáo, thấy rằng: Sau khi uống rượu, bị cáo D thấy bị cáo H đi ngang nhìn mình, thì bị cáo D hỏi “Mày muốn gì?”, bị cáo H thách thức bị cáo D: “Cho mày 15 phút” thì bị cáo D báo cho T1, B1, H2 và 02 thanh niên khác biết, chuẩn bị hung khí dao tự chế, trong đó T1 lấy dao dài 20cm, B1 và hai thanh niên mỗi người cầm dao tự chế để chờ H. Khi nhóm của H1 đến, thì bị cáo D giật dao tự chế của B1 chém vào đầu xe của bị cáo T4 làm bể phần trước xe. Khi H1 đến cầm súng, thì D thách thức H1 bắn D và hai bên giằng co giật súng với nhau, sau đó H1 bị nhóm của D lấy súng và hẹn sáng mai trả lại súng cho bị cáo H1.
Sau khi T1 được Bùi Phú T12 báo cho biết nhóm của H1 tìm nhóm của D đòi súng, thì T1 báo cho D biết, D kêu T1 đến chỗ giấu súng đem trả cho H1. Sau đó, T1 cùng T12 đến nơi cất giấu súng, T12 kêu T1 đưa súng cho T12 giữ để trả cho H1 vì T12 quen biết H1, T1 thông báo cho H1 hẹn địa điểm trả súng trước Trường Cao Đẳng N1 thuộc Phường C. Sau đó nhóm D gồm D, T1, B1, T12 đến địa điểm gặp nhóm H1 trả súng, D và T12 đến xe của H1 giao trả súng, sau khi trả súng thì cả hai nhóm tiếp tục cự cãi nhau, nhóm của H1 dùng hung khí dao, kiếm...rượt đuổi chém nhóm của D nhưng chưa gây thương tích cho ai. Trong vụ án này, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo D là “thành khẩn khai báo”, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “đầu thú” được quy định tại các điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Tòa án sơ thẩm xử bị cáo D mức án 09 tháng tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ gì khác, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Nhựt D, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[2.3] Bị cáo Phan Văn H: Kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét hành vị của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo H sau khi đi uống rượu về đi ngang gặp nhóm của bị cáo D, bị cáo D nhìn H nói: “Mày muốn gì?”, bị cáo H thách thức: “Cho mày 15 phút”, bị cáo H điện thoại cho H1, A1, T4 biết nhóm của D đòi đánh, bị cáo A1 đến địa điểm của nhóm D, khi H1 và D giằng co giật súng, bị nhóm của D lấy súng, hẹn sáng mai trả lại súng cho H1, bị cáo A1 và H1 về nhà trọ T13 7 nơi A1 thuê phòng ở, bị cáo H điện thoại rủ thêm P, H1 điện thoại cho T5 và chuẩn bị hung khí, H cầm dao tự chế, A1 cầm hai dao tự chế đưa cho H1 một con dao cùng chở nhau đi tìm nhóm của D, khi qua khu dân cư Phường 3, không thấy nhóm của D thì cả nhóm về lại nhà trọ Tuấn P2 7. Sau đó nhóm D điện thoại cho bị cáo H1 hẹn địa điểm trước Trường Cao Đẳng N1 thuộc Phường C trả súng cho bị cáo H1, thì H, A1 đem dao tự chế mang theo để lên xe ô tô đến địa điểm hẹn, khi nhóm D trả súng thì A1 ngồi trên xe mở kính xe xuống, T12 đưa súng, A1 lấy súng để trên xe, cả hai nhóm tiếp tục cự cãi nhau. Khi bị cáo Tấn T (R) rượt đuổi chém nhóm của D thì các bị cáo H và A1 lấy dao tự chế rượt đuổi chém nhóm của D nhưng chưa gây thương tích cho ai. Trong vụ án này, bị cáo H được Toà án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo”, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại các điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xét xử bị cáo mức án 06 tháng tù. Trong đơn kháng cáo, bị cáo H nêu gia đình có công với cách mạng nhưng không xuất trình tài liệu chứng minh và tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ khác so với các tình tiết giảm nhẹ mà Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét; đồng thời, nhận thấy hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là phù hợp, nên không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Phan Văn H.
[2.4] Bị cáo Nguyễn Minh P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo; bị cáo Trần Quang T4 kháng cáo xin được hưởng án treo. Trong quá trình điều tra, xét xử đã thể hiện, sau khi đi uống rượu về thì bị cáo H đi ngang gặp nhóm của D thách thức H thì bị cáo H điện thoại cho bị cáo T4, A1, H1 biết nhóm của D chặn đường, bị cáo T4 liền đến địa điểm của nhóm D và bị D dùng dao tự chế chém vào đầu xe mô tô của bị cáo T4. Khi H1 và D giằng co giật súng và bị nhóm của D lấy súng và hẹn sáng mai trả lại súng cho bị cáo H1, sau đó H1 về nhà trọ T, thì bị cáo P được bị cáo H điện thoại, T5 được H1 điện thoại rủ đến và tìm nhóm của D để đòi lại súng, thì P, T5 đồng ý tham gia, T5 điện thoại rủ thêm Hồ H4. T5, P mỗi người cầm dao tự chế và điều khiển xe mô tô đi tìm nhóm của D. Khi qua khu dân cư Phường C, không thấy nhóm D thì cả nhóm về lại nhà trọ Tuấn P2 7. Sau đó, nhóm D điện thoại cho nhóm H1 hẹn địa điểm trước Trường Cao Đẳng N1 thuộc Phường C trả súng cho bị cáo H1 thì T5, P, H, A1, Tấn T cầm dao tự chế, kiếm mang theo còn T4 là người lái xe ô tô chở cả nhóm đến địa điểm hẹn. Khi nhóm D trả súng cho H1 nhận xong, cả hai nhóm tiếp tục cự cãi nhau. Khi bị cáo Tấn T (R) rượt đuổi chém nhóm của D thì các bị cáo T5, P cùng với H1, Tấn T, A1 lấy dao tự chế rượt đuổi theo chém nhóm của D nhưng chưa gây thương tích cho ai. Sau đó T4 lái xe ô tô đưa đồng bọn về nhà. Trong vụ án này Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo Nguyễn Minh P, Trần Quang T4 do các bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại các điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo P 06 tháng tù, bị cáo T4 03 tháng tù là phù hợp.
Trong đó, bị cáo Trần Quang T4 có vai trò giúp sức bằng hành vi lái xe ô tô chở các bị cáo khác cùng với hung khí mang theo, nên mức hình phạt 03 tháng tù đã xét xử đối với bị cáo T4 là hình phạt thấp nhất và tương xứng với hành vi, vai trò của bị cáo T4 trong vụ án. Bị cáo T4 kháng cáo nhưng không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Minh P có mang theo hung khí cùng với các đồng phạm khác trong nhóm của Trần Minh H1 nhằm gây thương tích cho nhóm của bị cáo Phan Nhựt D, nên vai trò của P cũng là người thực hành như các bị cáo khác, vai trò của bị cáo không phải là thứ yếu. Bị cáo P kháng cáo có cung cấp đơn có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường B4, thành phố S xác nhận hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động duy nhất phải chăm sóc, cấp dưỡng cho cha, mẹ và vợ của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cha của bị cáo P sinh năm 1976, mẹ của bị cáo sinh năm 1977, còn vợ của bị cáo sinh năm 2001, những người này đều còn trong độ tuổi lao động và không có tài liệu khác chứng minh họ không còn khả năng lao động đến mức bị cáo phải là người cấp dưỡng duy nhất. Ngoài ra, mức án 06 tháng tù đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo P, nên giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.
[2.5] Bị cáo Nguyễn Tấn T1: Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T1 rút kháng cáo. Xét thấy việc rút kháng cáo của bị cáo T1 là tự nguyện, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo, Bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo T1 có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.
[3] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có một phần cơ sở để chấp nhận.
[4] Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Tấn T1.
Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Nguyễn Tấn T1 kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tấn T, Phan Nhựt D, Phan Văn H, Nguyễn Minh P, Trần Quang T4.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Tấn T, Phan Nhựt D, Phan Văn H, Nguyễn Minh P, Trần Quang T4.
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn T, Phan Nhựt D, Phan Văn H, Nguyễn Minh P, Trần Quang T4 cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- 3.1. Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 01 năm tù (Một năm tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 07/12/2023).
- 3.2. Căn cứ khoản 6 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Nhựt D 09 tháng tù (Chín tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 23/02/2024).
- 3.3. Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Phan Văn H 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- - Xử phạt bị cáo Trần Quang T4 03 tháng tù (Ba tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- 3.1. Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Tấn T, Phan Nhựt D, Phan Văn H, Nguyễn Minh P, Trần Quang T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Tấn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
Bản án số 181/2024/HS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 181/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn T cùng đồng phạm
