|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 181/2023/HS-ST Ngày: 30 - 11 - 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Minh Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh.
2. Ông Nguyễn Hồng Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 144/2023/HSST ngày 03/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
-
Hoàng Quang S; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01/4/1991 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Hoàng Văn N, sinh năm 1964; Con bà: Trịnh Thị X, sinh năm 1964; Có vợ là: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1993; Vợ chồng có 02 con chung (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Xuân H1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 04/8/1987 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1965; Con bà: Trịnh Thị H3, sinh năm 1967; Có vợ là: Tiêu Thị H4, sinh năm 1992; Vợ chồng có 02 con chung (con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt tại phiên tòa).
-
Trịnh Văn H5; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 21/6/1986 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Trịnh Văn D, sinh năm 1942; Con bà: Nguyễn Thị O, sinh năm 1946; Có vợ là: Sầm Thị H6, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa).
-
Trịnh Xuân L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 29/01/1987 tại Bắc Giang; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Trịnh Xuân P, sinh năm 1957; Mẹ: Đồng Thị L1, sinh năm 1964; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Trịnh Thị Thu T, sinh năm 1986; Vợ chồng có 02 con chung (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt tại phiên tòa).
-
Võ Tá Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 02/8/1983 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Võ Tá P1 (đã chết); Mẹ: Trịnh Thị A, sinh năm 1952; Có vợ là: Ngô Thị H7, sinh năm 1984; Vợ chồng có 02 con chung (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Lê Xuân B, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
-
Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
- Người làm chứng: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
- Người chứng kiến: Ông Lê Văn T2, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 15 phút ngày 08/5/2023, tại nhà của Lê Xuân B thuộc tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; tổ công tác Đ1 Công an thành phố P phát hiện bắt quả tang Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5, Trịnh Xuân L đang đánh bạc dưới hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền. Tang vật thu giữ gồm: 9.294.000 đồng thu trên chiếu bạc, 01 bộ bài lơ khơ 52 quân, 01 chiếu cói và 01 ống kim loại hình trụ tròn. Tạm giữ trên người Hoàng Quang S số tiền 500.000 đồng, trên người Võ Tá Đ số tiền 1.300.000 đồng, trên người Nguyễn Xuân H1 số tiền 100.000 đồng. Sau đó, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các đối tượng trên và niêm phong vật chứng để giải quyết theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5, Trịnh Xuân L khai nhận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/5/2023 các đối tượng đến nhà Lê Xuân B tại tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để xem bóng đá. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì các đối tượng rủ nhau đánh bạc tại đây bằng hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền tại phòng khách nhà B. Quá trình đánh bạc, S khai sử dụng khoảng 650.000 đồng, Đ khai sử dụng 600.000 đồng, H1 khai sử dụng 5.800.000 đồng, H5 khai sử dụng khoảng 500.000 đồng và L khai sử dụng khoảng 1.150.000 đồng để đánh bạc. Về hình thức đánh “Sâm” được các đối tượng tham gia đánh bạc quy ước như sau: Bộ bài lơ khơ gồm 52 quân bài được trộn đều và chia cho mỗi người tham gia đánh bạc 10 lá bài, còn lại 02 lá để dưới chiếu bạc gọi là “Nọc”. Sau khi chia đủ quân bài và những người tham gia đánh bạc nhận bài của mình thì người chia bài được đánh đầu tiên, tiếp theo là người bên cạnh theo hướng chiều kim đồng hồ, đánh chặn từ thấp đến cao không phân biệt đồng chất, nếu ai hết bài trước thì người đó sẽ thắng, những người còn lại thua và sẽ đếm số lá bài còn lại của mình chưa đánh rồi tính tiền trả cho người thắng. Quy ước số tiền phải trả đối với mỗi lá bài còn thừa chưa đánh là 5.000 đồng/lá bài. Trong ván bạc sau khi chia bài nếu có người báo “Sâm” (Sâm màu: tức là số lá bài cầm trên tay cùng một màu. Sâm đôi: tức là số lá bài gồm 05 đôi giống nhau. Sâm tứ quý: tức là có bốn quân bài 2) mà những người cùng tham gia đánh bạc không chặn được thì người đã báo sâm thắng và được những người thua trả số tiền mỗi người là 100.000 đồng. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 08/5/2023 thì bị Cơ quan công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Lời khai nhận của Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5, Trịnh Xuân L phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Ngoài ra, quá trình các đối tượng đánh bạc còn có Lê Văn T1 (sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) có mặt tại đó, nhưng T1 không tham gia đánh bạc cùng mà chỉ ngồi xem, còn B đi làm đến khoảng 22 giờ 30 phút thì về và thấy các đối tượng đang đánh bạc nhưng B không tham gia đánh bạc cùng. Đối với số tiền 1.900.000 đồng tạm giữ trên người của Hoàng Quang S, Võ Tá Đ và Nguyễn Xuân H1, quá trình điều tra xác định S, Đ và H1 không sử dụng số tiền này vào việc đánh bạc.
Như vậy, tổng số tiền Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5, Trịnh Xuân L sử dụng vào việc đánh bạc bằng hình thức đánh “Sâm” là: 9.294.000 đồng thu trên chiếu bạc (trong đó 125.000 đồng đựng trong ống kim loại hình trụ tròn các đối tượng khai là số tiền bỏ ra cho chủ nhà, 80.000 đồng ở giữa chiếu bạc là số tiền các đối tượng bỏ ra để làm tiền gà).
Vật chứng của vụ án: 11.194.000 đồng tiền ngân hàng N1, 01 bộ bài lơ khơ 52 quân, 01 chiếu cói và 01 ống kim loại hình trụ tròn được chuyển đến tài khoản và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số 157/CT-VKSPY ngày 30/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5, Trịnh Xuân L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
-
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5, Trịnh Xuân L phạm tội “Đánh bạc”.
-
Về hình phạt
2.1. Về hình phạt chính:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Hoàng Quang S, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Xuân L đề nghị xử phạt:
+ Bị cáo Hoàng Quang S mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Bị cáo Nguyễn Xuân H1 mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Bị cáo Trịnh Xuân L mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trịnh Văn H5, Võ Tá Đ đề nghị xử phạt:
+ Bị cáo Trịnh Văn H5 mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Bị cáo Võ Tá Đ mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5, Trịnh Xuân L cho Ủy ban nhân dân xã, phường nơi các bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.2. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Phạt tiền các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5, Trịnh Xuân L mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng nộp Ngân sách Nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu cói và 01 ống kim loại hình trụ tròn.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền: 9.294.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
- Trả lại số tiền: 500.000 đồng thu giữ trên người của Hoàng Quang S, số tiền 1.300.000 đồng thu giữ trên người Võ Tá Đ, số tiền 100.000 đồng thu giữ trên người Nguyễn Xuân H1 cho các bị cáo S, Đ, H1 tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
-
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5, Trịnh Xuân L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước; Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo theo quy định.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Nói lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, được cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm sóc gia đình, làm công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Xuân B và chị Nguyễn Thị V, người làm chứng là anh Lê Văn T1 và người chứng kiến ông Lê Văn T2 vắng mặt. Xét thấy những người có tên trên đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có tên trên theo quy định.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5 và Trịnh Xuân L tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Do hám lợi, trong khoảng thời gian từ 22 giờ 00 phút ngày 07/5/2023 đến 00 giờ 15 phút ngày 08/5/2023 tại nhà của Lê Xuân B thuộc tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5, Trịnh Xuân L đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền thì bị phát hiện xử lý. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 9.294.000 đồng.
Như vậy, hành vi, ý thức của các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5 và Trịnh Xuân L đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số: 157/CT-VKSPY ngày 30/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5 và Trịnh Xuân L về tội danh và điều luật viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung điều luật quy định:
“Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng:
Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, song hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của Nhà nước. Các bị cáo tụ tập rủ nhau đánh bạc có tính chất sát phạt tiền bạc của nhau để kiếm lời, không những làm thiệt hại về tài sản của mình và người khác, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, việc đưa ra xét xử là cần thiết nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung để đẩy lùi tệ nạn này ra khỏi cộng đồng.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, việc các bị cáo tham gia đánh bạc là hoàn toàn tự phát, không có người khởi xướng và cầm đầu, trong khi tham gia đánh bạc không có sự bàn bạc hoặc phân công vai trò hoặc người canh giới, trong khi sát phạt nhau đều tham gia tích cực nên cùng phải chịu một chế tài hình phạt do điều luật quy định.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5 và Trịnh Xuân L đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Qua trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Trịnh Xuân L có ông nội là liệt sỹ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Chiến sỹ giải phóng (năm 1975) và được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công”, bị cáo Nguyễn Xuân H1 có ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo Hoàng Quang S có ông nội được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo L, H1, S được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, các bị cáo cũng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Xem xét về hình phạt cần áp dụng:
Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy bị cáo đều cùng thực hiện hành vi phạm tội và phải chịu cùng một chế tài hình phạt do điều luật quy định. Cả 05 (năm) bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5 và Trịnh Xuân L đều được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nhân thân tốt. Các bị cáo là lao động chính trong gia đình và đều có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với 05 (năm) bị cáo mà có thể cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ sức để răn đe, giáo dục và không gây nguy hiểm cho xã hội.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả 05 (năm) bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
[8] Xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc chiếu cói, 01 chiếc ống kim loại hình trụ tròn và bộ bài tú lơ khơ 52 quân là công cụ dùng để phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ; Đối với số tiền 9.294.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; Đối với số tiền số tiền 500.000 đồng thu giữ trên người của Hoàng Quang S, số tiền 1.300.000 đồng thu giữ trên người Võ Tá Đ, số tiền 100.000 đồng thu giữ trên người Nguyễn Xuân H1, các bị cáo không sử dụng để đánh bạc nên trả lại cho các bị cáo, tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10] Các vấn đề khác: Trong vụ án này, vợ chồng anh Lê Xuân B và chị Nguyễn Thị V là chủ nhà nơi các đối tượng sử dụng để đánh bạc; nhưng khi các đối tượng rủ nhau đánh bạc tại nhà của B thì B đi làm không ở nhà, còn chị V có mặt ở nhà nhưng ở trong phòng ngủ nên không biết việc các đối tượng đánh bạc, cũng không được lợi ích gì từ việc này. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 07/5/2023 B đi làm về và thấy các đối tượng đang đánh bạc tại nhà của mình nhưng B cũng không ngăn cản, và cũng không biết việc các đối tượng bàn bạc sẽ đưa cho B số tiền 125.000 đồng để trong ống kim loại hình trụ tròn để mua chè và nước uống. Công an thành phố P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0004956/QĐ-XPHC ngày 09/9/2023 đối với Lê Xuân B về hành vi “Dùng nhà, chỗ ở để chứa chấp việc đánh bạc” theo điểm b khoản 4 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Đối với Lê Văn T1, quá trình điều tra xác định khi các đối tượng đánh bạc, T1 cũng có mặt tại đây nhưng chỉ ngồi xem, không tham gia đánh bạc. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với T1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 46, Điều 47, Điều 48; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Hoàng Quang S, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Xuân L;
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 46, Điều 47, Điều 48; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trịnh Văn H5, Võ Tá Đ;
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5 và Trịnh Xuân L phạm tội “Đánh bạc”.
-
Về hình phạt:
2.1 Về hình phạt chính:
-
- Xử phạt bị cáo Hoàng Quang S 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
-
- Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân L 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
-
- Xử phạt bị cáo Võ Tá Đ 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
-
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H1 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
-
- Xử phạt bị cáo Trịnh Văn H5 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5 và Trịnh Xuân L cho UBND phường T, thành phố P nơi bị cáo hiện đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2.2. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5 và Trịnh Xuân L mỗi bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước;
-
-
Về xử lý vật chứng:
-
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài được niêm phong trong phong bì ký hiệu B ;01 chiếu cói đã qua sử dụng; 01 chiếc ống kim loại hình trụ tròn có kích thước đường kính 13cm, chiều cao 17cm, bên ngoài có dòng chữ “BLACK MORES” đã qua sử dụng được niêm phong trong thùng cattong ký hiệu "T".
-
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 9.294.000 đồng (Chín triệu hai trăm chín mươi bốn ngàn đồng).
-
- Trả lại cho bị cáo: Hoàng Quang S số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); Bị cáo Võ Tá Đ số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng); Bị cáo Nguyễn Xuân H1 số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 124/QĐ-VKSPY ngày 19/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cùng biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 10 năm 2023 và giấy Ủy nhiệm chi kèm theo)
-
-
Về chi phí tố tụng: Các bị cáo Hoàng Quang S, Võ Tá Đ, Nguyễn Xuân H1, Trịnh Văn H5 và Trịnh Xuân L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
-
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Minh Quang |
Bản án số 181/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 181/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Quang Sơn cùng đồng phạm bị xét xử về tội đánh bạc
