Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 181/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-5-2024

V/v Ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Trần Văn Triều
  • 2/ Ông Nguyễn Thành Châu

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 377/2023/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2258/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Lâm Q, sinh năm 1963.
  • Địa chỉ: 4 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp nhận văn bản tố tụng của ông Q: Ông Trần Văn T, sinh năm 1977.

    Địa chỉ: H T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Bị đơn: Bà Lương Thị K, sinh năm 1968.
  • Địa chỉ: Số nhà A, hẻm C đường D, khu Đ, thành phố C, Đài Loan.

    Người đại diện hợp pháp nhận văn bản tố tụng của bà K: Ông Lâm Q, sinh năm 1963.

    Địa chỉ: 4 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn ông Lâm Q trình bày:

Ông và bà Lương Thị K kết hôn vào năm 1998, theo giấy chứng nhận kết hôn số 98/KH, quyển số 01/1998 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/10/1998. Thời gian đầu, vợ chồng ông sống hạnh phúc. Năm 2017 do cuộc sống gia đình khó khăn nên bà K xin đi lao động tại Đài Loan để kiếm thêm thu nhập cùng phụ giúp gia đình. Thời gian đầu ở Đài Loan thì bà K cũng hay liên lạc với ông. Nhưng từ năm 2020 cho tới nay thì bà Kim í liên lạc hơn và nêu nhiều lý do. Từ đó hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với nhau vì bà K không chịu quay về Việt Nam. Do khoản cách địa lý xa xôi và vợ chồng không gần gũi nhau nên mâu thuẫn mỗi ngày trầm trọng hơn. Nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với bà K nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lương Thị K.

Về con chung: Ông và bà Lương Thị K có 03 con chung tên Lâm Mỹ L sinh ngày 02/03/1989, Lâm Mỹ Y sinh ngày 22/04/1995, Lâm Gia L1 sinh ngày 19/12/2000. Hiện nay con chung Lâm Mỹ L đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với 02 con chung tên Lâm Mỹ Y và Lâm Gia L1 đã trên 18 tuổi nhưng các con bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ông tự nguyện chăm lo, nuôi dưỡng và chăm sóc cho các con và không yêu cầu bà K cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 27/3/2024 được Văn phòng K1 tại Đ chứng thực số 307-3 quyển số 01/2024 – SCT/CKĐC ngày 27/3/2024, bị đơn bà Lương Thị K trình bày:

Bà và ông Lâm Q kết hôn vào năm 1998, theo giấy chứng nhận kết hôn số 98/KH, quyển số 01/1998 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/10/1998.

Về quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng bà thống nhất như trình bày của ông Lâm Q. Hiện nay ông Lâm Q đang yêu cầu ly hôn với bà tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên đối với yêu cầu của ông Lâm Q bà có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông Lâm Q

Về con chung: Bà và ông Lâm Q có 03 con chung tên Lâm Mỹ L sinh ngày 02/03/1989, Lâm Mỹ Y sinh ngày 22/04/1995, Lâm Gia L1 sinh ngày 19/12/2000. Hiện nay con chung Lâm Mỹ L đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với 02 con chung tên Lâm Mỹ Y và Lâm Gia L1 đã trên 18 tuổi nhưng các con bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Bà đồng ý giao con chung tên Y và L1 cho ông Q tiếp tục nuôi dưỡng. Bà đồng ý với cấp dưỡng cho con khi ông Q yêu cầu.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do có ông Q có yêu cầu tòa án không tiến hành hòa giải khi ly hôn.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn ông Lâm Q, bị đơn bà Lương Thị K đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án :

Nguyên đơn ông Lâm Q đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam có đơn xin ly hôn với bị đơn bà Lương Thị K đang cư trú tại Đài Loan đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 ; Điều 38 ; Điều 40; Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 123 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về tố tụng:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ các bên tham gia phiên tòa, nguyên đơn ông Lâm Q, bị đơn bà Lương Thị K đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn ông Lâm Q, bị đơn bà Lương Thị K có đăng ký kết hôn vào năm 1998, theo giấy chứng nhận kết hôn số 98/KH, quyển số 01/1998 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/10/1998, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo ông Lâm Q và bà Lương Thị K trình bày: Sau khi kết hôn, hai bên chung sống hạnh phúc một thời gian, sau đó do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên bà K đi lao động tại Đài Loan, ông Q ở lại Việt Nam. Trong khoảng thời gian không chung sống với nhau, hai bên ít liên lạc với nhau. Nay ông Q và bà K đều xác nhận vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống và không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hai bên đã nhiều lần tự hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, qua một thời gian nói chuyện thì hai bên đã thống nhất ly hôn. Hiện nay, hai bên đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến đời sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, việc hàn gắn là không thể thực hiện được.

Ông Lâm Q nhận thấy không còn tình cảm với bà Lương Thị K, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn để ổn định cuộc sống. Về phía bà Lương Thị K có bản tự khai đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Lâm Q.

Xét thấy, vợ chồng có quyền, nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xây dựng gia đình hạnh phúc, đây cũng là mục đích của hôn nhân. Do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, điều kiện địa lý khách quan nên thực tế vợ chồng bà Lương Thị K, ông Lâm Q đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng càng kéo dài, cả hai đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Lâm Q xin ly hôn và Lương Thị K đồng ý thuận tình ly hôn là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Ông Q và bà K cùng thống nhất có ba con chung tên Lâm Mỹ L sinh ngày 02/03/1989, Lâm Mỹ Y sinh ngày 22/4/1995, Lâm Gia L1 sinh ngày 19/12/2000. Hiện nay con chung Lâm Mỹ L đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với 02 con chung tên Lâm Mỹ Y và Lâm Gia L1 đã trên 18 tuổi nhưng ông Q và bà K cùng xác định con chung tên Y và L1 bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ông Q và bà Kim thống n giao con chung tên Y và L1 cho ông Q tiếp tục nuôi dưỡng, ông Q không yêu cầu bà K cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc thỏa thuận này là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung: Hai bên xác định không có, nên không xét.

Về nợ chung: Hai bên xác định không có, nên không xét.

[4] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 đồng nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Ông Lâm Q và bà Lương Thị K được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56 ; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ luật Thi hành án dân sự 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Q.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Lâm Q và bà Lương Thị Kim thuận t ly hôn.
  • - Về con chung: Con chung Lâm Mỹ L (giới tính: Nữ) sinh ngày 02/03/1989 đã trưởng thành. Ông Q, bà K thống nhất xác định 02 con chung còn lại là Lâm Mỹ Y (giới tính: Nữ) sinh ngày 22/4/1995, Lâm Gia L1 (giới tính: Nam) sinh ngày 19/12/2000 đã đủ tuổi trưởng thành nhưng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên ông Lâm Q và bà Lương Thị Kim thống n1 giao con chung Lâm Mỹ Y, Lâm Gia L1 cho cha là ông Lâm Q trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Q không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi 02 chung Mỹ Y và L1.

Người trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con với người trực tiếp nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  • - Về tài sản chung: Không có.
  • - Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí và thi hành án:

Thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000đ (ba trăm nghìn), ông Lâm Q phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền ông Lâm Q đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2023/0001263 ngày 26/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Ông Lâm Q được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Bà Lương Thị K được quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Cục THA dân sự Tp.HCM;
  • - UBND Phường 10, Q.Tân Bình, Tp. HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 181/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger