|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 181/2024/HSST Ngày: 29-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Thắng
Bà Phạm Thị Loan
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thuỷ - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 173/2024/TLST-HS ngày 09-8-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST-HS ngày 16-8-2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Tuấn N, sinh ngày 09-10-1984; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Số nhà A đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc H và bà Đoàn Thị T; vợ Trần Thị Bích H1; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31-12-2019 Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; bị tạm giữ ngày 14-5-2024, chuyển tạm giam từ ngày 23-5-2024; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: ông Hoàng Vũ C và ông Nguyễn Thái S (không triệu tập tham gia phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13-5-2024, tổ công tác Công an phường H, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà B đường Đ, phường C, thành phố N phát hiện Đặng Tuấn N đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải N đang mặc 01 túi ni lông màu trắng, kích thước khoảng (5x8) cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (N khai là ma túy đá mua về để sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đặng Tuấn N.
Bản kết luận giám định số 910/KL-KTHS ngày 21-5-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng, trong 01 túi ni lông màu trắng, kích thước (5x8) cm thu giữ của Đặng Tuấn N, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,284 (không phảy hai trăm tám mươi bốn) gam .
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Tuấn N khai: Khoảng 14 giờ ngày 13-5-2024, N ngồi ở quán nước gần khu vực Bưu Điện tỉnh Nam Định, thuộc phường L, thành phố N thì gặp T1 (là bạn xã hội, không rõ lai lịch, địa chỉ), N hỏi mua 300.000 đồng ma túy tổng hợp dạng đá, T1 đồng ý hẹn N đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày quay lại vị trí này để lấy ma túy. Khi đến điểm hẹn N đưa cho T1 300.000 đồng và nhận lại gói ma túy, rồi cất vào trong túi quần phía trước bên phải N đang mặc, đi tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ .
Công an phường H phối hợp với Công an phường C, thành phố N tiến hành xác minh nam thanh niên tên T1 là người bán ma túy cho N. Kết quả không có người nào tên T1 có đặc điểm như N khai, nên Cơ quan điều tra tách ra điều tra, xử lý sau.
Bản cáo trạng số 177/CT-VKSND-TPNĐ ngày 8-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Đặng Tuấn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Đặng Tuấn N khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Đặng Tuấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Đặng Tuấn N từ 24 tháng đến 27 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ.
2
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đặng Tuấn N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Đặng Tuấn N, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 910/KL-KTHS ngày 21-5-2024 của Phòng K Công an tỉnh N cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13-5-2024, tại khu vực trước cửa số nhà B đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, Đặng Tuấn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,284 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 lần bị kết án (đã được xoá án tích). Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt,
3
cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Đặng Tuấn N không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tiểu tịch thu, tiêu hủy.
[6] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo Đặng Tuấn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Tuấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đặng Tuấn N 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 14-5-2024.
2. Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 910/KL-KTHS (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-8-2024).
3. Án phí: Bị cáo Đặng Tuấn N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Đặng Tuấn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4
Nơi nhận:
- - Bị cáo;
- - TAND tỉnh Nam Định;
- - VKSND TP. Nam Định;
- - Công an TP. Nam Định;
- - Chi cục THADS TP. Nam Định;
- - Lưu hồ sơ vụ án, VP.
5
Bản án số 181/2024/HSST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 181/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Tuấn Nghĩa - TTMT
