Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/DS - ST

Ngày: 29 - 7 - 2024

V/v: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Trang.

Các Hội thẩm nhân dân

  1. Bà Trần Thị Dung
  2. Ông Trần Ngọc Bích

Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Cần – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Tô Văn Tông – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 159/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 397/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 20204 và Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2024/QÐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N.

    Địa chỉ: 2 Cách mạng tháng 8, phường D, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1990 – có mặt.

    Địa chỉ: B N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  • Bị đơn:

    Đặng Thị Ánh T, sinh năm 1976 – vắng mặt.

    Ông Nguyễn Anh K, sinh năm 1984 – vắng mặt.

    Địa chỉ: 1 Cách mạng tháng 8, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn Ngân hàng TMCP N trình bày:

Ông Nguyễn An K1, bà Đặng Thị Ánh T đã ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 0043/2022/610-TD-CV ngày ký 13/10/2022 để vay tiền của Ngân hàng TMCP N1 Á-PGD Ninh Kiều với tổng số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng), cụ thể như sau:

  1. Theo Giấy nhận nợ số 01/GNN-0043/2022/610-TD-CV ký ngày 27/10/2022: Số tiền vay: 200.000.000chữ: Hai trăm triệu đồng chẵnThời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất: 11,5%/năm, lãi được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh, bán buôn thiết bị và linh kiện điện tử, viễn thông.
  2. Theo Giấy nhận nợ số 02/GNN-0043/2022/610-TD-CV ký ngày 16/11/2022: Số tiền vay: 200.000.000chữ: Hai trăm triệu đồng chẵnThời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất: 15.0%/năm, lãi được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh, bán buôn thiết bị và linh kiện điện tử, viễn thông.
  3. Theo Giấy nhận nợ số 03/GNN-0043/2022/610-TD-CV ký ngày 05/01/2023: Số tiền vay: 200.000.000chữ: Hai trăm triệu đồng chẵnThời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất: 14,2%/năm, lãi được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh, bán buôn thiết bị và linh kiện điện tử, viễn thông.

Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên ông K1 và bà T đã ký với N2 Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0031/2022/610-TD-BĐ ngày ký 13/10/2022 tại Văn phòng C, thành phố Cần Thơ, cụ thể là:

Tài sản 01: Quyền sử dụng đất: Thửa đất số: 742, tờ bản đồ số: 12; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; Diện tích: 2.597 m2 (Bằng chữ: Hai nghìn năm trăm chín mươi bảy phẩy không mét vuông); Hình thức sử dụng: Riêng; Mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước; Thời hạn sử dụng đất: 17/11/2070 (LUC: 1.987 m2); 10/10/2070 (LUC: 610 m2); Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất (LUC: 1.987 m2), Được tặng cho đất được công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất (LUC: 610 m2).

Giấy tờ liên quan đến tài sản đảm bảo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 684699, vào sổ cấp GCN số CS 02538 do Sở tài nguyên và Môi trường thành phố C, Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai cấp ngày 07/4/2022. Cập nhập chuyển nhượng cho ông Nguyễn Anh K ngày 29/7/2022.

Tài sản 02: Quyền sử dụng đất: Thửa đất số: 740, tờ bản đồ số: 12; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; Diện tích: 1.000,0 m2 (Bằng chữ: Một nghìn phẩy không mét vuông); Hình thức sử dụng: Riêng; Mục đích sử dụng: Đất trồng cây hằng năm khác; Thời hạn sử dụng đất: Thời hạn sử dụng đất đến

ngày 06/6/2065; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Giấy tờ liên quan đến tài sản đảm bảo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 521578, vào sổ cấp GCN số CS 02452 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh C cấp ngày 06/12/2021. Chuyển nhượng cho ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T ngày 29/7/2022. Tạm tính đến ngày 20/03/2024, ông K và bà T đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là: 29.689.472 đồng, cụ thể: Nợ gốc đã thanh toán: 3.078.977 đồng; Nợ lãi đã thanh toán: 26.610.495 đồng. Dư nợ của ông K và bà T theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 0043/2022/610-TD-CV ký ngày: 13/10/2022 tạm tính đến ngày 20/03/2024 là: Nợ gốc: 596.921.023 đồng; Nợ lãi phát sinh: 144.185.653 đồng; Tổng: 741.106.676 đồng.

Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông K và bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để ông K và bà T trả nợ, nhưng ông K và bà T vẫn không thực hiện.

Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, kế hoạch trả nợ với Ngân hàng TMCP N của ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T đã vi phạm các điều khoản cam kết trong hợp đồng tín dụng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP N. Chính vì những lý do trên, với tư cách là người khởi kiện, Ngân hàng TMCP N kính đề nghị Tòa án xem xét, chấp nhận đơn khởi kiện để giải quyết các yêu cầu đối với người bị kiện như sau:

  1. Tuyên buộc ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP N toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo các Hợp đồng tín dụng đã ký, tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/03/2024 là: 741.106.676 đồng, trong đó: Nợ gốc: 596.921.023 đồng; nợ lãi 144.185.653 đồng;
  2. Trong thời gian chưa thanh toán nợ, ông K và bà T vẫn phải chịu lãi suất quá hạn, lãi phạt theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.
  3. Khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật ông K và bà T vẫn không trả nợ theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản đã ký, thì Ngân hàng TMCP N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm đã nêu rõ trong phần nội dung tranh chấp, để thu hồi nợ theo đúng quy định trong Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0031/2022/610-TD-BĐ ngày ký 13/10/2022 tại Văn phòng C, thành phố Cần Thơ, cũng như quy định của pháp luật.
  1. Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ, ông K và bà T có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N đến khi trả nợ xong.

Bị đơn ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

Đại diện ủy quyền của Ngân hàng tranh luận:

- Giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện như sau:

  1. Yêu cầu ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T phải thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng P nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 794.615.652 đồng. Cụ thể: trong đó: Nợ gốc: 596.921.023 đồng; nợ lãi 186.440.317 đồng;
  2. Trong thời gian chưa thanh toán nợ, ông K và bà T vẫn phải chịu lãi suất quá hạn, lãi phạt theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.
  3. Khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật ông K và bà T vẫn không trả nợ theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản đã ký, thì Ngân hàng TMCP N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm đã nêu rõ trong phần nội dung tranh chấp, để thu hồi nợ theo đúng quy định trong Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0031/2022/610-TD-BĐ ngày ký 13/10/2022 tại Văn phòng C, thành phố Cần Thơ, cũng như quy định của pháp luật.

- Xin rút lại đối với yêu cầu: Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ, ông K và bà T có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N đến khi trả nợ xong.

Đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm liên quan đến vụ án như sau (kèm theo bài phát biểu tại phiên tòa):

Về tố tụng:

- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực quy định tại Điều 30 về thẩm quyền giải quyết vụ án, Điều 68, về tư cách tham gia tố tụng Điều 195, 196 về trình tự thụ lý và giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và đương sự đúng quy định, xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thực hiện đúng quy định.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử: Vụ án đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 48, Điều 49 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng dân sự thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Qua các tài liệu trong hồ sơ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N đối với bị đơn bà Đặng Thị Ánh T, ông Nguyễn Anh K.
    • - Buộc bà Đặng Thị Ánh T, ông Nguyễn Anh K phải trả số tiền tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 794.615.652 đồng. Cụ thể: trong đó: Nợ gốc: 596.921.023 đồng; nợ lãi 186.440.317 đồng; và buộc bị đơn tiếp tục trả lãi, phí từ ngày 29/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ.
    • - Chấp nhận yêu cầu trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ, ngân hàng có quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
    • - Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do nguyên đơn xin rút yêu cầu tại phiên tòa.

Tòa tính án phí theo quy định.

Trên đây là ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án Kinh doanh thương mại nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả được thẩm tra công khai tại phiên toà và dựa vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Đặng Thị Ánh T, ông Nguyễn Anh K đã được triệu tập nhưng vắng mặt nhiều lần do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý: Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và hiện nay phía bị đơn không thực hiện việc trả nợ gốc, nợ lãi nên đã phát sinh tranh chấp. Do vậy, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[3] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

3.1 Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc của nguyên đơn:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N (gọi tắt là Ngân hàng N) khởi kiện và yêu cầu bị đơn bà Đặng Thị Ánh T, ông Nguyễn Anh K thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 0043/2022/610-TD-CV ngày ký 13/10/2022. Phía nguyên đơn đã cung cấp được bản sao hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ và các bảng kê chiết tính các khoản nợ gốc, nợ lãi nên xác định bị đơn còn nợ vốn gốc của HĐTD hạn mức số 0043 là 596.921.023 đồng (năm trăm chín mươi sáu triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn không trăm hai mươi ba đồng). Do đó với những chứng cứ trên có đủ cơ sở xác định bị đơn bà Đặng Thị Ánh T, ông Nguyễn Anh K có vay vốn tại Ngân hàng N và chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, nay Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ vốn gốc như nêu trên là có cơ sở chấp nhận.

3.2 Xét yêu cầu thanh toán nợ lãi của nguyên đơn:

Đối với yêu cầu tính lãi trong hạn, lãi quá hạn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Cặc cứ vào Hợp đồng tín dụng hạn mức nêu trên mà bên nguyên đơn và bị đơn đã ký về việc áp dụng lãi suất trong hạn cũng như việc điều chỉnh lãi qua các lần, các bên đều có thỏa thuận trong hợp đồng và hợp đồng đã có hiệu lực, được các bên thực hiện một khoảng thời gian nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc trong hạn là có căn cứ.

Đối với yêu cầu tính lãi quá hạn của nguyên đơn đối với bị đơn theo HĐTD số 0043/2022/610-TD-CV ngày ký 13/10/2022, Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào hợp đồng tín dụng nêu trên có quy định lãi suất quá hạn tại Điều 10 của hợp đồng và phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Do vậy, yêu cầu tính lãi quá hạn của nguyên đơn cũng có căn cứ chấp nhận.

Ngoài ra, bị đơn vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo số nợ gốc còn lại của hợp đồng tín dụng 0043/2022/610-TD-CV ngày ký 13/10/2022 tính từ ngày tiếp theo là ngày 21/3/2024 cho đến khi bị đơn trả xong nợ cho nguyên đơn, lãi được tính theo mức lãi của hợp đồng tín đã ký.

3.3 Xét yêu cầu xử lý tài sản theo hợp đồng thế chấp số 0031/2022/610-TD-BĐ ngày ký 13/10/2022 tại Văn phòng C, thành phố Cần Thơ của nguyên đơn:

- Hội đồng xét xử thấy rằng Hợp đồng tín dụng số 0043/2022/610-TD-CV ngày ký 13/10/2022 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn là các Hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản, việc bị đơn thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 0031/2022/610-TD-BĐ ngày ký 13/10/2022 tại Văn phòng C, thành phố Cần Thơ và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, thành phố Cần Thơ vào ngày 13 tháng 10 năm 2022, tài sản thế chấp là GCNQSDĐQSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 684699, vào sổ cấp GCN số CS 02538 do Sở tài nguyên và Môi trường thành phố C, Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai cấp ngày 07/4/2022, cập nhập chuyển nhượng cho ông Nguyễn Anh K ngày 29/7/2022 thuộc Thửa đất số: 742, tờ bản đồ số: 12; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ và GCNQSDĐQSH nhà ở và tài sản khác

gắn liền với đất số DC 521578, vào sổ cấp GCN số CS 02452 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh C cấp ngày 06/12/2021, chuyển nhượng cho ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T ngày 29/7/2022 thuộc Thửa đất số: 740, tờ bản đồ số: 12; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Như vậy, hợp đồng thế chấp đã được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 317, 318, 319, 320, 322, 323, 325 Bộ luật dân sự năm 2015.

Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng nguyên đơn yêu cầu xử lý toàn bộ tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ là có căn cứ chấp nhận.

- Đối với yêu cầu: Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ, ông K và bà T có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N đến khi trả nợ xong. Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn xin rút lại yêu cầu này nên Hội đồng xét xử chấp nhận và sẽ đình chỉ phần yêu cầu này.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều là thống nhất với quan điểm của Hội đồi xét xử nên ghi nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, án phí tương ứng: 20.000.000đ + 4% (794.615.652 đồng – 400.000.000đ) = 35.784.626 đồng (ba mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi bốn nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng).

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N được nhận lại 15.450.000 đ (mười lăm triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000662 ngày 13/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

[5] Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ): Bị đơn ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T phải chịu 7.500.000 đồng. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N đã nộp tạm ứng nên bị đơn bà T, ông K phải có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 7.500.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 244, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bộ S năm 2017); Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 322, Điều 323, Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N đối với bị đơn ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T.
    • - Buộc bị đơn ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T phải trả cho Ngân hàng TMCP N số nợ gốc và lãi của hợp đồng tín dụng hạn mức 0043/2022/610-TD-CV ngày ký 13/10/2022 tạm tính đến ngày 20/3/2024 là 794.615.652 đồng (trong đó: Nợ gốc: 596.921.023 đồng; nợ lãi 186.440.317 đồng).
    • Bị đơn ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo số nợ còn lại của hợp đồng tín dụng hạn mức 0043/2022/610-TD-CV ngày ký 13/10/2022 tính từ ngày tiếp theo là ngày 30/7/2024 cho đến khi bị đơn trả xong nợ cho nguyên đơn, lãi được tính theo mức lãi của hợp đồng tín dụng đã ký.
    • Trường hợp bị đơn ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu Thi hành án phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 0031/2022/610-TD-BĐ ngày ký 13/10/2022 tại Văn phòng C, thành phố Cần Thơ và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, thành phố Cần Thơ vào ngày 13 tháng 10 năm 2022, tài sản thế chấp là GCNQSDĐQSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 684699, vào sổ cấp GCN số CS 02538 do Sở tài nguyên và Môi trường thành phố C, Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai cấp ngày 07/4/2022, cập nhập chuyển nhượng cho ông Nguyễn Anh K ngày 29/7/2022 thuộc Thửa đất số: 742, tờ bản đồ số: 12; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ và GCNQSDĐQSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 521578, vào sổ cấp GCN số CS 02452 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh C cấp ngày 06/12/2021, chuyển nhượng cho ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T ngày 29/7/2022 thuộc Thửa đất số: 740, tờ bản đồ số: 12; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ của bị đơn ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T để thu hồi nợ.
  2. Về án dân sự sơ thẩm:
    • - Bị đơn ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 35.784.626 đồng (ba mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi bốn nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng).
    • Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N được nhận lại 15.450.000 đ (mười lăm triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000662 ngày 13/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
    • Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ): Bị đơn ông Nguyễn Anh K, bà Đặng Thị Ánh T phải chịu 7.500.000 đồng. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N đã nộp tạm ứng nên bị đơn bà T, ông K phải có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 7.500.000 đồng.
  3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo

trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết ở địa phương nơi cư trú.

  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND QNK;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐỖ THỊ DIỄM TRANG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/DS - ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 181/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng kiện ông Khoa trả nợ vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger