|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 181/2024/HS-ST
Ngày: 26-04-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Phước.
- Bà Võ Thị Gái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Khải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 180/2024/HSST ngày 09/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2024/QĐXXST-HS ngày 11/04/2024, đối với bị cáo:
Phan Chí T, tên gọi khác: Không; giới tính: N; sinh năm: 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không; nơi cư trú: Số G Đường A, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con bà Phan Kim L, sinh năm: 1983; cha: Không rõ; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, nên khoảng 18 giờ ngày 24/4/2023, Phan Chí T đến Đường B, phường L, thành phố T mua ma túy của một người tên H (chưa rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng, cuộn bên trong một mảnh giấy màu nâu rồi bỏ vào trong túi quần bên trái phía trước. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T hẹn bạn là Nguyễn Tấn T1 đi ăn tối tại bên cạnh Trung tâm thương mại V trên đường V, thành phố T. Sau khi ăn uống xong, khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe máy chở T đi dạo, khi đến Đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Tổ tuần tra 363 Công an thành phố T tiến hành kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên trái phía trước của T có 01 mảnh giấy màu nâu bọc bên ngoài 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, nghi là ma túy nên đã đưa T, T1 về Công an phường L làm việc.
Kết luận giám định chất ma túy số 4221/KL-KTHS ngày 28/4/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H: “Tinh thể không màu chứa trong gói nylon bọc bên ngoài gói giấy màu nâu thu giữ của Phan Chí T là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1187 gam”.
Qua xét nghiệm cho thấy T, T1 đều dương tính với ma túy.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, T khai nhận toàn bộ hành vi như trên. Nguyễn Tấn T1 khai bản thân nghiện ma túy nhưng không biết việc T mua ma túy, tàng trữ ma túy trong người, T1 chưa bao giờ sử dụng ma túy cùng T.
Vật chứng và đồ vật thu giữ: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 938/23 có chữ ký của giám định viên Võ La Bảo Y và Trần Cao C – Cán bộ CATP. Thủ Đức, bên trong là ma túy đá còn lại sau khi giám định; 01 (một) ống thủy tinh có đầu hình phễu là dụng cụ để sử dụng ma túy; 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi 9T màu xanh, số điện thoại 0775.014.xxx thu giữ của Phan Chí T.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định, với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng và không có ý kiến gì khác.
Bản Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 12/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Phan Chí T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và dụng cụ sử dụng ma túy là 01 ống thủy tinh có đầu hình phễu. Tịch thu, sung quỹ nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9T màu xanh, số điện thoại 0775.014.xxx thu giữ của Phan Chí T.
Bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 24/4/2023, tại Đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Phan Chí T đã có hành vi tàng trữ 0,1187 gam ma túy loại Methamphetamine, với mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi nêu trên của bị cáo T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt: Không có.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, làm tiền đề phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xấu trong xã hội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 938/23 có chữ ký của giám định viên Võ La Bảo Y và Trần Cao C – Cán bộ CATP. Thủ Đức, bên trong là ma túy đá còn lại sau khi giám định; 01 (một) ống thủy tinh có đầu hình phễu là dụng cụ để sử dụng ma túy. Xét đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9T màu xanh, số điện thoại 0775.014.xxx thu giữ của Phan Chí T, bị cáo khai đã sử dụng điện thoại này để liên hệ mua ma túy của H về sử dụng nên tịch thu, sung quỹ nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Luật Thi hành dân sự;
- Luật Thi hành án hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Chí T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/04/2023.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 938/23 có chữ ký của giám định viên Võ La Bảo Y và Trần Cao C – Cán bộ CATP. Thủ Đức, bên trong là ma túy đá còn lại sau khi giám định; 01 (một) ống thủy tinh có đầu hình phễu là dụng cụ để sử dụng ma túy.
- Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9T màu xanh, số điện thoại 0775.014.xxx thu giữ của Phan Chí T.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKS ngày 12/01/2024 và Phiếu nhập kho số NK24/107C ngày 24/01/2024)
- Về án phí:
Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Nguyễn Trung Thực |
Bản án số 181/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 181/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Chí T
