Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 181/2024/HSST

Ngày: 25-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Thái Văn Sơn
  2. Ông Huỳnh Văn Bé

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim An –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Đồng Quang Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/HSST ngày 02/5/2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/QĐXXST-HS ngày 03/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 111/2024/HSST-QĐHPT ngày 27/6/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn S; Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01 tháng 07 năm 2005. Tại: An Giang; Nơi thường trú: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 2/12. Nghề nghiệp: Không; họ tên cha: Nguyễn Văn R, họ tên mẹ: Nguyễn Thị H, vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

  2. Họ và tên: Lâm Khánh P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Bi; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 2004. Tại: Bạc Liêu; Nơi thường trú: ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 4/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; họ tên cha: Lâm Anh T, họ tên mẹ: Đặng Thị Diễm T1; vợ con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, đến ngày 08/6/2024 bị khởi tố theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 190/QĐ-ĐCSHS ngày 06/6/2024 và bị tạm giam theo Lệnh tạm giam số 799/LTG-ĐCSHS ngày 06/6/2024 cho đến nay.

  3. Họ và tên: Huỳnh Nhật H1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 2003. Tại: Kiên Giang; Nơi thường trú: ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Nơi ở hiện nay: ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: Bảo vệ; họ tên cha: Huỳnh Văn K, họ tên mẹ: Nguyễn Thị H2; vợ con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không

    Nhân thân: Bị can bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy P2 theo Quyết định số 196/QĐ-TA ngày 21/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn giam, giữ từ ngày 23/02/2024 cho đến nay.

  4. Họ và tên: Võ Thành Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: R1; Sinh ngày 08 tháng 10 năm 2003. Tại: Kiên Giang; Nơi thường trú: 1035/6 L, phường A, Tp ., tỉnh Kiên Giang. Nơi ở hiện tại: Số H, đường B, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; họ tên cha: Võ Hoàng L, họ tên mẹ: Nguyễn Thị H; vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Ban Q xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn Thành phố H

Trụ sở: 176 đường H, phường Đ, quận A, Tp Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dư Hoàng N, sinh năm 1991 (có mặt)

Địa chỉ: D ấp Đ, xã B, huyện H, Tp Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 01/GUQ-BQLNN ngày 24/7/2024)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lâm Thị Huỳnh P1, sinh năm 1987 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp cây Giang, xã Long Điền, huyện Long Hải, tỉnh Bạc Liêu

  2. Ông Nguyễn Ngọc H3, sinh năm 1952 chết năm 2017; Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Bà Vũ Thị Hồng Á, sinh năm 1963 (vắng mặt)

    Địa chỉ: F ấp D, xã T, huyện H, Tp Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/07/2023, Nguyễn Văn S bàn bạc rủ Lâm Khánh P, Huỳnh Nhật H1, Võ Thành Đ đi vào khu công trình cống thủy lợi bờ bao nhánh sông V thuộc ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy trộm khung, trụ thép mạ kẽm của công trình đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì P, H1, Đ đồng ý.

P điều khiển xe gắn máy biển số 94B1-046.90 chở H1 ngồi sau, S điều khiển xe gắn máy biển số 53R7-1043 chở Đ ngồi sau cùng đến công trình cống thủy lợi bờ bao nhánh sông V. Tại đây, P dùng 01 cây kềm bằng kim loại màu bạc để tháo ốc của 05 trụ thép mạ kẽm. Sau đó Đ, S, H1 cùng nhau tháo 04 khung thép kích thước 2m x 0,5m nối giữa 05 trụ thép và xô xuống lòng sông Vàm C (Do khung thép quá nặng nên nhóm không lấy trộm được). Nhóm của S, P, Đ, H1 cùng nhau lấy trộm 05 trụ thép (có kích thước 61cm x 13cm, dày 0,5 cm, đế trụ kích thước 13cm x 18 cm dày 01 cm, có 02 lỗ tròn đường kính 12cm và 13cm). Sau khi lấy xong, P để 01 trụ ở ba ga xe, chở H1 ngồi phía sau ôm 02 trụ; S chở Đ ngồi sau ôm 02 trụ đi tìm chỗ bán. Khi cả nhóm đang đi đến đoạn đường N thuộc ấp A, xã T, huyện C thì bị Công an xã T tuần tra nghi vấn mời về làm việc. Tại đây, S, P, H1, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 08/07/2023, anh Dư Hoàng N – Đại diện Ban Quản lý dự án chuyên ngành nông nghiệp, đơn vị quản lý dự án đã làm đơn trình báo gửi Công an xã T.

Tại biên bản Kết luận định giá tài sản số 235/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C định giá: 05 trụ thép mã kẽm kích thước 61cm x 13cm dày 0,5cm có tổng trị giá 4.000.000 đồng.

Tại biên bản Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS ngày 09/04/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C định giá: 04 khung lan can bằng thép mã kẽm kích thước 02cm x 0,5m tổng trị giá 13.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, S, P, H1, Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị can phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

* Vật chứng thu giữ (BL 249):

  • 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh biển số 53R7-1043, số khung MG11010361298, số máy 1P52FMH10361427;
  • 01 xe mô tô Yamaha nouvo màu xanh bạc biển số 94B1-046.90, số khung RLCN5P110BY396601, số máy 5P11396602;
  • 01 cây kềm bằng kim loại màu bạc dài 21cm;
  • 05 trụ thép mạ kẽm kích thước 61cm x 13cm, dày 0,5 cm (Trả lại cho Chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 1060 ngày 20/03/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C);

* Phần dân sự: Anh Dư Hoàng N - Đại diện Ban quản lý dự án đưa ra yêu cầu bồi thường về dân sự chi phí bồi thường 04 khung lan can và chi phí lắp đặt trị giá 15.200.000 đồng. Chi phí sữa chữa khắc phục hiện trạng là 1.800.000 đồng

Tại bản cáo trạng số 120/CT-VKSBT ngày 26/4/2024 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn S, Lâm Khánh P, Huỳnh Nhật H1Võ Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:

  • Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn S, Lâm Khánh P, Huỳnh Nhật H1Võ Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S, Lâm Khánh P, Huỳnh Nhật H1, Võ Thành Đ mỗi bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.

* Về xử lý vật chứng:

  • 01 xe số loại 110, màu sơn: Xanh, biển số 53R7-1043, số khung MG11010361298, số máy 1P52FMH10361427 là xe của bà Vũ Thị Ánh H4 và đã bán tài sản này cho người khác nên đề nghị đăng thông báo tìm chủ sở hữu theo quy định, trường hợp không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung vào công quỹ Nhà Nước.
  • 01 xe số loại Nouvo, màu sơn: Xanh bạc, biển số 94B1-046.90, số khung RLCN5P110BY396601, số máy 5P11396602 của bà Lâm Thị Huỳnh P1, đề nghị trả lại cho bà P1.
  • 01 cây kềm bằng kim loại màu bạc dài 21cm là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch tiêu hủy;

* Phần dân sự: Anh Dư Hoàng N là người đại diện theo ủy quyền của Ban Q xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn Thành phố H yêu cầu bồi thường chi phí trục vớt lắp đặt 04 khung lan can là 15.200.000 đồng. Các bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị ghi nhận sự tự nguyện các bị cáo với bị hại.

* Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát

* Lời nói sau cùng: Các bị cáo S, P, Đ không nói lời nói sau cùng; riêng bị cáo H1 đã nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Văn S, Lâm Khánh P, Huỳnh Nhật H1Võ Thành Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng thu được và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố các bị cáo ra trước tòa, cho thấy: Các bị cáo Nguyễn Văn S, Lâm Khánh P, Huỳnh Nhật H1Võ Thành Đ do muốn kiếm tiền tiêu xài mà không phải lao động nên có ý định chiếm đoạt tài sản từ trước, các bị cáo cùng nhau chiếm đoạt tài sản cụ thể, khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/07/2023, tại công trình thủy lợi bờ bao nhánh sông V thuộc ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn S, Lâm Khánh P, Huỳnh Nhật H1, Võ Thành Đ đã lợi dụng công trình thi công không có người trông coi nên cùng nhau thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; P lén lút dùng kềm để tháo ốc của 05 trụ thép mạ kẽm kích thước 61cmx13cm; Đ, S, H1 cùng nhau tháo 04 khung thép kích thước 2m x 0,5m; sau khi thực hiện tháo dỡ tài sản P chở H1 cùng 03 trụ kẻm 61cmx13cm; S chở Đ cùng 02 trụ kẻm 61cmx13cm để đi tiêu thụ thì bị bắt giữ cùng tang vật; Riêng 04 khung thép kích thước 2m x 0,5m do nặng quá không lấy được các bị cáo đã xô xuống lòng sông Vàm Chi mục đích là để khi nào có điều kiện sẽ lấy.

Theo kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình huyện C định giá: 05 trụ thép mã kẽm kích thước 61cm x 13cm dày 0,5cm có tổng trị giá 4.000.000 đồng. 04 khung lan can bằng thép mã kẽm kích thước 02cm x 0,5m tổng trị giá 13.000.000 đồng. Tổng cộng là 17.000.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Văn S, Lâm Khánh P, Huỳnh Nhật H1Võ Thành Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện tính xem thường pháp luật, chỉ vì cần tiền tiêu xài lười lao động các bị cáo đã cố ý phạm tội, gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương nên cần phải áp dụng một mức phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi, vai trò và nhân thân của các bị cáo, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Đây là vụ án phạm tội có tính chất đồng phạm, bị cáo S là người khởi xướng, rủ rê và là người cùng các bị các khác trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, nhưng các bị cáo không tổ chức cấu kết chặt chẽ thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn nên khi lượng hình cũng cần có một mức hình phạt tương xứng với hành vi, vai trò của bị cáo trong vụ án.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hính sự

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định.

[7]. Về xử lý vật chứng:

  • 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh biển số 53R7-1043, số khung MG11010361298, số máy 1P52FMH10361427 là xe của ông H3, ông H3 đã bán cho người khác nên cần đăng thông báo tìm chủ sở hữu theo quy định, trường hợp không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung vào công quỹ Nhà Nước.
  • 01 xe mô tô Yamaha nouvo màu xanh bạc biển số 94B1-046.90, số khung RLCN5P110BY396601, số máy 5P11396602 là của bà P1, bà P1 cho bị cáo P mượn và không biết bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho bà Lâm Thị Huỳnh P1.
  • 01 cây kềm bằng kim loại màu bạc dài 21cm không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Phần dân sự: Đại diện bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tiền chi phí trục vớt lắp đặt 04 khung lan can là 15.200.000 đồng; các bị cáo đồng ý cùng bồi thường nên ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bị cáo với đại diện bị hại.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn S, Lâm Khánh P, Huỳnh Nhật H1, Võ Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • * Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn S.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.
    • * Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lâm Khánh P.
    • Xử phạt bị cáo Lâm Khánh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án
    • * Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Huỳnh Nhật H1.
    • Xử phạt bị cáo Huỳnh Nhật H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2024
    • * Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Thành Đ.
    • Xử phạt bị cáo Võ Thành Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.
  2. Về phần dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Ghi nhận sự tự nguyện các bị cáo cùng bồi thường cho bị hại số tiền 15.200.000 đồng; cụ thể, buộc mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 3.800.000 đồng cho Ban Q xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn Thành phố H; thời hạn thi hành sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, các bị cáo chưa bồi thường số tiền nêu trên thì hàng tháng các bị cáo còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm bồi thường tương ứng với thời gian chậm bồi thường, lãi suất phát sinh do chậm bồi thường số tiền nêu trên theo quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • + Đ1 báo theo quy định để tìm chủ sở hữu 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh biển số 53R7-1043, số khung MG11010361298, số máy 1P52FMH10361427, trường hợp không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung vào công quỹ Nhà Nước.
    • + Trả lại cho bà Lâm Thị Huỳnh P1 01 xe mô tô Yamaha nouvo màu xanh bạc biển số 94B1-046.90, số khung RLCN5P110BY396601, số máy 5P11396602.
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 cây kềm bằng kim loại màu bạc dài 21cm, mũi kềm rộng 03cm, bản rộng 6,5cm, tay cầm bọc nhựa màu xanh đen.

    (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 87/PNK-CSĐT-ĐTTH ngày 25/3/2024)

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND HCC;
  • - Chi cục THADS HCC;
  • - THAHS;
  • - Phòng PC53 Công an TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HSST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 181/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger