Hệ thống pháp luật

TAND QUẬN N

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HSST

Ngày: 24/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Ông Nguyễn Tiến C – Cán bộ hưu trí
    • 2. Ông Phan Minh T – Nguyên giáo viên đã nghỉ hưu
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy D - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/6/2024, tại trụ sở TAND quận N, thành phố H, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 137/2024/TLST-HS ngày 29/5/2024 đối với các bị cáo:

  1. Thái Bá C, sinh năm 2003; Giới tính: Nam

    Nơi ĐKNKTT: Thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

    Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

    Con ông Thái Bá B và bà Nguyễn Thị L1

    Vợ, con: Chưa có

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H – Có mặt.

  2. Nguyễn Văn T, sinh năm 2003; Giới tính: Nam

    Nơi ĐKNKTT: Tổ 2, phường Thiệu Dương, thành phố T, tỉnh T.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

    Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

    Con ông Nguyễn Văn S và bà Lê Thị H

    Vợ, con: Chưa có

    Tiền án: 01 tiền án, ngày 19/9/2022, bị TAND cấp cao tại Hà Nội tuyên phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng.

    Tiền sự: không

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H – Có mặt.

  3. Nguyễn Văn T1, sinh năm 2001; Giới tính: Nam

    Nơi ĐKNKTT: Tổ H, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

    Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên

    Con ông Nguyễn Văn H và bà Dương Thị P

    Vợ, con: Chưa có

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H – Có mặt.

  4. Võ Thị Ngọc T2, sinh năm 1993; Giới tính: Nữ

    Nơi ĐKNKTT: Ấp L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

    Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

    Con ông Võ Văn H1 và bà Nguyễn Thị Xuân T3

    Bị cáo có chồng là Lê Minh P (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H – Có mặt.

  5. Nguyễn Lê Ngọc Thảo L, sinh ngày 04/9/2006; Giới tính: Nữ

    Nơi ĐKNKTT: Tứ Ngân, Đ, Đ, Quảng Nam.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

    Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

    Con ông Nguyễn Lê T4 và bà Nguyễn Thị Hoài T

    Chồng, con: Chưa có

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H – Có mặt.

  6. Hoàng Minh T5, sinh năm 1995; Giới tính: Nam

    Nơi ĐKNKTT: Số B, hẻm B, ngõ Q, Quỳnh Lôi, quận H, thành phố H.

    Chỗ ở: Số 39B, ngõ 2 Đại Từ, phường T, quận H, thành phố H.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

    Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

    Con ông Hoàng Văn Y và bà Vũ Hồng T

    Vợ, con: Chưa có

    Tiền án, tiền sự: Không

    Nhân thân: Ngày 20/8/2012, TAND quận B, thành phố H xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, ra trại ngày 30/8/2013 (đã được xóa án tích).

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H – Có mặt.

  7. Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1995; Giới tính: Nam

    Nơi ĐKNKTT: Số D, ngõ A, A, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

    Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

    Con ông Nguyễn Văn D và bà Trần Thị M

    Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thúy H2, sinh năm 1991, có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Các bị cáo bị VKSND quận N, thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Thái Bá C, Võ Thị Ngọc T2 và Nguyễn Lê Ngọc Thảo L quen biết nhau trong trại tị nạn tại Myanmar và được giải cứu về Việt Nam.

Ngày 02/01/2024, Thái Bá C từ Thanh Hóa ra H5 thuê căn hộ 3206, tòa S106, V, N, Hà Nội để nghỉ ngơi, tìm việc làm thêm. Tối ngày 02/01/2024 C liên lạc với Võ Thị Ngọc T2 thì được biết ngày 04/01/2024 T2 sẽ về quê sinh sống nên rủ T2 đến phòng 3206 chơi và đến giờ ra sân bay. Sáng ngày 03/01/2024 T2 đón taxi đến căn hộ trên và nghỉ ngơi tại một phòng ngủ riêng của căn hộ.

Chiều ngày 03/01/2024, C liên lạc với Nguyễn Văn T (bạn cùng quê) thì được biết T đang ở Hà Nội nên rủ T qua phòng chơi thì T đồng ý; Tối ngày 03/01/2024 C cùng T và T2 đi ăn uống tại khu đô thị V. Trên đường về C nói ý định sẽ tổ chức sử dụng ma túy thì T đồng ý; Sau đó C gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T1 (em họ C) hẹn đến phòng chơi; còn T đến phòng 808 của một người bạn xã hội tên Q (bạn cùng quê với T1, C và T) tại tòa GS1, Vinhome Smartcity thì thấy K (bạn cùng quê với T, T1 và C) đang nằm ngủ tại đây. Một lúc sau T1 cùng Q về phòng và gặp K, T. Sau đó C gọi video cho T thì biết có cả K, T1 đang ở phòng của Q nên bảo T, T1 và K đến phòng của C. Khi cả nhóm đến căn hộ 3206 của C và ngồi ăn uống tại phòng khách thì T hỏi “bây giờ chơi gì”? Lúc này C hỏi “chơi cái gì” (loại ma túy gì) thì T bảo mua “ketamine” và ma túy “nước vui”. Sau đó T gọi cho tài khoản M1 tên “Lê Đại L1” để xin số điện thoại người bán ma túy thì được người này đọc cho số điện thoại 0846.816.xxx, T lưu tên “Bạn A L2” là số điện thoại của Hoàng Minh T5. T gọi điện, nhắn tin hỏi mua 01 chỉ ketamine và 01 gói ma túy nước vui thì được T5 báo giá là 8.000.000 đồng (trong đó tiền mua “nước vui” là 3.500.000 đồng, tiền mua 01 chỉ ketamine là 4.000.000đ và 500.000đ tiền công ship) rồi nhắn tin số tài khoản 5800171 ngân hàng A mang tên “HOANG MINH TU” cho T. T báo lại giá tiền cho những người còn lại và nói rằng mình không có tiền; T1 nói rằng chỉ có 1.000.000đ rồi chuyển khoản số tiền này vào tài khoản của C (số tài khoản 102872596377, ngân hàng V5, trong tài khoản của C có 1.000.000đ, sau khi được T1 chuyển khoản tài khoản của C có 2.000.000đ; còn K trả lời không có tiền và nói “thôi bỏ đi, tí tao gọi bóng về chơi” rồi lên mạng xã hội telegram tìm đặt 01 bình “bóng cười”. Do chưa đủ tiền mua ma túy nên thấy T2 từ nhà vệ sinh đi vào phòng ngủ, C đi theo và hỏi vay Thúy 6.000.000₫ để giải quyết công việc thì T2 đồng ý và chuyển khoản cho C vay số tiền trên. Sau đó T đọc số tài khoản để C chuyển khoản số tiền 8.000.000đ cho T5. Một lúc sau T2 đi ra phòng khách thì C bảo T2 liên lạc với D1 (không rõ nhân thân lai lịch, bạn chung của T2 và C) rủ sang sử dụng ma túy. T2 liên lạc nhưng D1 từ chối nên đã gọi điện, nhắn tin cho Nguyễn Lê Ngọc Thảo L rủ sang chơi, sử dụng ma túy thì L đồng ý và đón xe taxi đến sảnh tòa S106 và được T2 đưa lên phòng 3206.

Sau khi nhận được số tiền 8.000.000₫ mua ma túy, khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/01/2024, T5 lấy 01 túi ma túy “nước vui” và 01 túi ketamine cho vào túi nilong màu vàng rồi đưa cho Nguyễn Tiến Đ (đang ngồi chơi tại phòng trọ của T5) mang đến tòa S106 để giao cho T và thống nhất tiền công với Đ là 500.000đ. Đ cho túi nilong chứa ma túy trên vào túi áo rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave gắn BKS: 29F1-04740 đến KĐT V. Trên đường đi T5 nhắn tin số điện thoại của T cho Đ để liên lạc giao ma túy. Khoảng 23 giờ 45 cùng ngày, khi đến trước sảnh tòa S106 Đ lấy túi ma túy để xuống vệ đường rồi gọi điện thoại cho T xuống lấy. T cùng C đi xuống sảnh thì được Đ chỉ vị trí cất giấu ma túy rồi cầm mang lên phòng. Sau khi vào phòng T để ma túy lên bàn; C pha gói ma túy “nước vui” cùng sữa vào ruột nồi cơm điện rồi cùng T, L và T2 sử dụng. Sau đó C mang số ma túy này vào phòng ngủ cho T1 và K sử dụng. Một lúc sau L và T2 đi vào phòng ngủ thì thấy túi ketamine trên bàn đầu giường; L dùng bật lửa đốt nóng đĩa rồi cho K1 ra và dùng thẻ nhựa để “xào”. Sau đó L đưa đĩa ketamine lần lượt cho từng người sử dụng và nằm nghe nhạc.

Khoảng hơn 2 giờ ngày 04/01/2024 C và T xuống trước sảnh tòa S106 đợi để lấy bình bóng cười thì bị tổ công tác Công an phường T kiểm tra và bắt giữ cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ:

  • + Thu giữ của Thái Bá C 01 đĩa sứ chứa tinh thể màu trắng được thu vào 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x3)cm nghi là ma túy tổng hợp, 01 tẩu hút cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng dính tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp, 01 thẻ cứng dính tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp, 01 ruột nồi cơm điện dính chất lỏng màu nâu bên trong có 01 cốc sứ có dính chất lỏng màu nâu nghi là ma túy tổng hợp, 01 loa nhãn hiệu Mozart màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax màu tím, gắn sim điện thoại.
  • + Thu giữ của Võ Thị Ngọc T2: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu xanh, gắn sim điện thoại.
  • + Thu giữ của Nguyễn Văn T1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 ProMax màu trắng, gắn sim điện thoại.
  • + Thu giữ của Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng, gắn sim điện thoại.
  • + Thu giữ của Nguyễn Lê Ngọc Thảo L: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, gắn sim điện thoại.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm đối với Thái Bá C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Lê Ngọc Thảo L, Võ Thị Ngọc T2, Hoàng Tiến K2 đều thể hiện Dương tính với ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 456/KLGĐ-PC09 ngày 12/01/2024 của Phòng K3 - Công an thành phố H kết luận:

  • - Tinh thể màu trắng bên trong 01 đĩa sứ màu trắng (được thu vào 01 túi nilong) là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,235 gam.
  • - 01 thẻ nhựa có ghi chữ nước ngoài và 01 tẩu hút cuốn bằng tờ tiền 20.000 đồng đều dính ma túy loại Ketamine.
  • - 01 nồi cơm điện và 01 cốc sứ đều dính ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại ketamine và ma túy loại Nimetazepam.

Điều tra mở rộng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bắt giữ Nguyễn Tiến Đ về hành vi bán trái phép chất ma túy cho T. Đ đã khai nhận và chỉ vị trí phòng trọ của Hoàng Minh T5 tại số C, ngõ B phố Đ, phường T, quận H, Hà Nội. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T5, cơ quan Công an đã thu giữ: 01 hộp bìa cát tông màu vàng bên trên có chữ Louis Vuitton bên trong 01 cân điện tử màu đen, 01 túi nilon màu trắng chứa 15 viên nén màu trắng nghi là ma túy tổng hợp, 01 túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp trên giá để đồ cạnh giường ngủ.

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax gắn sim điện thoại (thu giữ của Hoàng Minh T5).
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn sim điện thoại, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave gắn BKS: 29F1- 04740 (thu giữ của Nguyễn Tiến Đ).

Tại bản kết luận giám định số 479A/KLGĐ-PC09 ngày 14/01/2024 của Phòng K3 - Công an thành phố H kết luận:

  • - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng, là ma túy loại Ketamine, khối lượng 4,211 gam.
  • - 15 viên nén màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 6,583 gam.
  • - 01 cân điện tử màu đen có dính ma túy loại Ketamine.

Hoàng Minh T5 tàng trữ 4,211 gam ma túy Ketamine và 6,583 gam ma túy MDMA với mục đích để bán. Căn cứ khoản 2 Điều 5, Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ để tính tổng khối lượng của hai chất ma túy cụ thể như sau:

  • + Tỷ lệ phần trăm về khối lượng MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA được quy định tại khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự cụ thể: 0,7: 30x 100% = 21,94%.
  • + Tỷ lệ phần trăm về khối lượng Ketamine (chất ma túy thể rắn) so với mức tối thiểu đối với các chất ma túy ở thể rắn được quy định tại khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự cụ thể: 4,211:100 x 100%=4,211%.

Tổng tỷ lệ phần trăm của 02 chất ma túy thu giữ của T5 là 21,94%+ 4,211%= 26,151%.

Ngoài ra khoảng 22giờ 30 phút ngày 25/6/2023, Hoàng Minh T5 đã bán trái phép cho Nguyễn Tiến Đ với giá 3.000.000 đồng ma túy MDMA và ma túy Ketamine, sau đó Đ mang bán cho cho Lê Đức H3 (Sinh ngày: 09 tháng 12 năm 2000, HKTT: Kênh Thôn, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa) để sử dụng với giá 3.900.000 đồng (Đ được hưởng lợi 900.000 đồng) tại số A ngõ E M, phường M, quận N như sau:

Khoảng 22h30 ngày 25/06/2023, Nguyễn Tiến Đ nhận được điện thoại của Lê Đức H3 đặt mua 02 viên ma túy “kẹo” và 01 chỉ ma túy “Ke”, Đ đồng ý và báo giá cho H3 là 3.900.000đ (3.600.000đ tiền ma túy và 300.000đ tiền ship). Đ yêu cầu H3 chuyển khoản tiền vào tài khoản số 0876686699 ngân hàng S3 mang tên Nguyễn Tiến Đ. Sau khi chuyển tiền H3 báo cho Đ địa chỉ ship hàng là giao đến trước số A, ngõ E M, M, N, Hà Nội. Sau đó Đ gọi điện thoại cho Hoàng Minh T5 đặt mua 02 viên kẹo và 01 chỉ ke, T5 đồng ý vào báo giá 3.000.000đ. Tiếp đó Đ liền đến nhà T5 ở ngõ B, Đ, T, H, Hà Nội lấy ma túy và chuyển khoản trả tiền cho T5. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày Đ mang hàng đến trước cửa nhà số A, ngõ E, M và dán ở bờ tường đối diện cửa nhà số A và gọi điện thoại báo cho H3 biết sau đó đi về. Đến ngày 26/06/2023, H3 lấy ma túy sau đó cất giấu ở phòng trọ và bị công an phường M kiểm tra, phát hiện và bắt giữ H3.

Tại bản kết luận giám định số 4400/KLGĐ-PC09 ngày 04/07/2023 của Phòng K3 - Công an thành phố H kết luận:

  • - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon, là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,700 gam.
  • - 02 viên nén màu hồng có hình hoa 5 cánh đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 0,580 gam.

Ngày 14/12/2023, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử đối với Lê Đức H3 về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Còn đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Hoàng Minh T5, và Nguyễn Tiến Đ ngày 25/6/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định nhập vụ án ngày 03/4/2024 để xử lý đối với Đ, T5 về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về nguồn gốc ma túy: T5 khai mua số ma túy bán cho Đ vào ngày 25/6/2023, T5 mua vào khoảng cuối tháng 6/2023, còn ma túy bán cho T ngày 03/01/2024, T5 mua vào khoảng cuối tháng 12/2023 với mục đích để bán kiếm lời. Cụ thể với số ma túy Ketamine và ma túy “kẹo” T5 liên lạc qua Telegram mua của một người đàn ông tên là H4. Người này để ma túy tại trước tòa CT10A- Chung cư Đ rồi chụp ảnh gửi cho T5. Còn với gói ma túy “nước vui” T5 liên lạc qua T6 mua của một người đàn ông tên T7. Người này để ma túy tại trước số G N rồi chụp ảnh gửi cho T5. Trong cả hai lần này T5 đều gửi ảnh chụp cho Đ đến lấy và mang về cho T5.

Cơ quan Công an đã tiến hành rà soát khu vực trước tòa CT10A chung cư Đ và số G N nhưng không xác định được rõ nhân thân lai lịch của người người đã bán ma túy cho T5 nên không có căn cứ xác minh làm rõ.

Đối với người đàn ông tên “Lê Đại L1”: T khai L1 sinh năm 1990, trước đây sống tại phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Tiến hành xác minh tại Công an phường T xác định trên địa bàn không công dân nào có thông tin như trên. Do không rõ nhân thân lai lịch của người này nên không có căn cứ xác minh làm rõ.

Đối với chiếc xe máy hiệu Honda Wave gắn BKS: 29F1-04740, số khung: 637429, số máy: 625974: Xe có nguồn gốc hợp pháp, tra cứu tại Công an quận N xác định chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn D (Sinh năm: 1955, HKTT: Số D ngõ A phố A, phường Y, quận T, TP Hà Nội). Ông D khai mua chiếc xe máy trên vào năm 2011 để phục vụ sinh hoạt cá nhân. Vào khoảng cuối tháng 12/2023 ông D cho Nguyễn Tiến Đ (con ruột) mượn chiếc xe máy trên để đi lại; việc Đ sử dụng chiếc xe máy làm phương tiện để đi bán trái phép chất ma túy thì ông D không biết. Ông D đã xuất trình 01 đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Văn D có thông tin BKS, số khung, số máy trùng khớp với chiếc xe nói trên. Tra cứu tại phòng PC02- Công an T xác định chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 29/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại chiếc xe nói trên cho ông Nguyễn Văn D.

Đối với Hoàng Tiến K2: Không tham gia bàn bạc việc sử dụng ma túy, không đóng góp tiền hay các lợi ích vật chất khác khi sử dụng ma túy, do đó không đủ căn cứ để xử lý đối K2 về hành vi: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 01/05/2024, cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Hoàng Tiến K2 hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt tiền 750.000đ.

Quá trình điều tra, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên: Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ và kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu đã thu giữ có liên quan.

Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKSNTL ngày 28/5/2024 của của VKSND quận N, thành phố H đã truy tố:

Thái Bá C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Võ Thị Ngọc T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS.

Truy tố Nguyễn Lê Ngọc Thảo L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS.

Truy tố Hoàng Minh T5 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Truy tố Nguyễn Tiến Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về Điều luật và hình phạt đề nghị:

  1. Thái Bá C: Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Chung từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù.

  2. Nguyễn Văn T: Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm h khoản 1 Điều 52 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 5 Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 8 đến 8 năm 6 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của bản án số 668 ngày 19/9/2022 của Tòa án cấp cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “gây rối trật tự công cộng” nay chuyển thành hình phạt tù có thời hạn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 9 năm 6 tháng đến 10 năm tù.

  3. Nguyễn Văn T1: Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 54 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 5 năm 6 năm 6 tháng tù.

  4. Võ Thị Ngọc T2: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểu 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo T2 từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù.

  5. Nguyễn Lê Ngọc Thảo L: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 54, Điều 91, 101 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 5 năm 3 tháng đến 5 năm 9 tháng tù.

  6. Hoàng Minh T5: Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù.

  7. Nguyễn Tiến Đ: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 ruột nồi cơm điện, 01 cốc sứ, cả hai đều dính các loại ma túy loại Methamphetamine, ketamine và N (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 đĩa sứ chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 ống tẩu được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000đ dính ma túy loại Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 thẻ cứng ghi chữ nước ngoài dính ma túy màu trắng là ma túy loại Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 hộp bìa các tông màu vằng bên trong in chữ Louis Vuiton bên trong có 01 cân điện tử màu đen dính ma túy loại ma túy loại Ketamine, 01 túi linon màu trắng chứa 15 viên nén màu trắng là ma túy loại MDMA và 01 túi nilonchứa tinh thể màu trắng là loại ma túy Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Hoàng Minh T5 và giám định viên);
  • + 01 loa màu đen

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax màu tím gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax màu xanh gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS ProMax màu vàng gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 ProMax màu trắng gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn sim điện thoại
  • + 20.000₫

Buộc bị cáo Đ nộp lại 1.400.000đ, bị cáo T5 nộp lại 8.000.000₫ sung công quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 04/01/2024 tổ công tác Công an phường T bắt quả tang tại căn hộ C, tòa S VinhomeSmart City, phường T, quận N, Hà Nội, các đối tượng Thái Bá C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Lê Ngọc Thảo L (17 tuổi 8 tháng), Võ Thị Ngọc T2 đang cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy và tổ chức cho Hoàng Tiến K2 sử dụng ma túy cùng, tại nhà của Thái Bá C. Quá trình điều tra đã làm rõ, Thái Bá C có hành vi khởi xướng việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cung cấp địa điểm, vay của T2 6.000.000đ và góp thêm tiền để mua ma túy tổng hợp, pha ma túy “nước vui”, Nguyễn Văn T liên lạc với Hoàng Minh T5 để mua ma túy, cuốn tờ tiền 20.000đ làm tẩu hút, xuống sảnh lấy ma túy và mang lên căn hộ 3206, Nguyễn Văn T1 có hành vi góp số tiền 1.000.000đ cho C để mua ma túy về sử dụng, Võ Thị Ngọc T2 có hành vi gọi điện rủ rê Nguyễn Lê Ngọc Thảo L cùng sử dụng ma túy; cung cấp thẻ nhựa để L “xào” ketamine, Nguyễn Lê Ngọc Thảo L có hành vi “xào” ma túy ketamine rồi đưa cho những người khác và Hoàng Tiến K2 cùng sử dụng. Khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy bắt quả tang cùng vật chứng.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra làm rõ đối Hoàng Minh Tú và Nguyễn Tiến Đ bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng sử dụng như sau:

Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 03/01/2024, Hoàng Minh T5 đã bán trái phép 1 túi ma túy “nước vui” và 1 chỉ ma túy ketamine với giá 8.000.000đ cho Nguyễn Văn T, sau đó giao cho Nguyễn Tiến Đ mang ma túy đến cho T tại sảnh tòa nhà S106, tòa S VinhomeSmart City, phường T, quận N, Hà Nội, Đ được hưởng lợi 500.000đ. Ngoài ra T5 còn tàng trữ 4,211 gam ma túy Ketamine và 6,583 gam ma túy loại MDMA (Tổng tỷ lệ phần trăm của 02 chất ma túy thu giữ của T5 là 26,151%) với mục đích bán để kiếm lời tại số C, ngõ B phố Đ, phường T, quận H, Hà Nội thì bị cơ quan điều tra bắt giữ cùng vật chứng.

Quá trình điều tra mở rộng làm rõ: khoảng 22 giờ 30 phút ngày 25/6/2023, Hoàng Minh T5 đã bán trái phép 0,580 gam ma túy loại MDMA và 1,700 gam ma túy loại Ketamine cho Nguyễn Tiến Đ với giá 3.000.000đ, sau đó Đ mang bán cho cho Lê Đức H3 để sử dụng (Sinh ngày: 09 tháng 12 năm 2000, HKTT: Kênh Thôn, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa) với giá 3.900.000đ (Đ được hưởng lợi 900.000đ) tại số A ngõ E M, phường M, N, thành phố Hà Nội.

Hành vi của các bị cáo Thái bá C2, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Võ Thị Ngọc T2 và Nguyễn Lê Ngọc Thảo L đã phạm tôi “Tổ chức sử dụng trái pjép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 255 BLHS. Hành vi của Hoàng Minh T5, Nguyễn Tiến Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 BLHS

Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Là nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm khác. Trực tiếp hủy hoại sức khỏe đối với người sử dụng, gây mất trật tự trị an, làm băng hoại đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm.

Xét đây là vụ án có nhiều bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Nhóm các bị cáo mua bán xác định bị cáo T5 vai trò chính, bị cáo cung cấp ma túy cho nhóm của C2, bị cáo Đ là S2 chuyển ma túy cho C2 và một lần cho H3 (lần chuyển ma túy cho H3 đã được xét xử theo bản án 357 ngày ngày 14/12/2023 của TAND quận Nam Từ Liêm, Hà Nội). Nhóm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xác định vai trò đầu vụ là bị cáo Chung. Bị cáo Chung là người khởi xướng, cung cấp địa điểm, vay của T2 6.000.000₫ để mua ma túy, khi mua ma túy thì C2 góp 1.000.000đ. Tiếp theo là bị cáo T, bị cáo liên lạc với T5 để mua ma túy, làm tẩu hút, trực tiếp nhận ma túy từ T5. T1 góp 1 triệu để mua ma túy. Tiếp theo là bị cáo T2 vừa cho C2 vay tiền đẻ mua ma túy, T2 còn rủ L đến nhà Chung cùng sử dụng, L dùng thẻ nhựa để xào V4 ta min.

Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo: Bị cáo T5 dã bị xử phạt 24 tháng về tội “cướp tài sản” vào năm 2013, đến nay đã được xóa án tích. Các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, lần đầu lần đầu phạm tội, nhưng phạm tội nghiêm trọng. Bị cáo L phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo T1 còn đang là sinh viên trong quá trình học tập được tặng giấy khen, huy chương trong thể thao, có ông ngoại là người có công với cách mạng. Hai bị cáo L, T1 đều nhất thời phạm tội, bị rủ rê lôi kéo, giữ vai trò ít nghiêm trọng trong vụ án. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để lượng hình đối với mỗi bị cáo.

Xét cần xử phạt mỗi bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo đã gây ra. Cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo phạm tội lần đầu, làm lao động tự do, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung “Phạt tiền” cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 ruột nồi cơm điện, 01 cốc sứ, cả hai đều dính các loại ma túy loại Methamphetamine, ketamine và N (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 đĩa sứ chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 ống tẩu được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000đ dính ma túy loại Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 thẻ cứng ghi chữ nước ngoài dính ma túy màu trắng là ma túy loại Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 hộp bìa các tông màu vằng bên trong in chữ Louis Vuiton bên trong có 01 cân điện tử màu đen dính ma túy loại ma túy loại Ketamine, 01 túi linon màu trắng chứa 15 viên nén màu trắng là ma túy loại MDMA và 01 túi nilonchứa tinh thể màu trắng là loại ma túy Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Hoàng Minh T5 và giám định viên);
  • + 01 loa màu đen

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax màu tím gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax màu xanh gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS ProMax màu vàng gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 ProMax màu trắng gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn sim điện thoại
  • + 20.000₫

Buộc bị cáo Đ nộp lại 1.400.000đ, bị cáo T5 nộp lại 8.000.000₫ sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Hoàng Minh T5, Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS;

Xử phạt: Hoàng Minh T5 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS;

Xử phạt: Nguyễn Tiến Đ 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS;

Xử phạt: Thái Bá C 8 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 5 Điều 65 BLHS;

Xử phạt: Nguyễn Văn T 8 năm tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của bản án số 668 ngày 19/9/2022 của Tòa án cấp cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “gây rối trật tự công cộng” nay chuyển thành hình phạt tù có thời hạn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 9 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS;

Xử phạt: Võ Thị Ngọc Thúy 7 năm 3 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 BLHS;

Xử phạt: Nguyễn Văn T1 5 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 BLHS, khoản 1 Điều 101 LLHS;

Xử phạt: Nguyễn Lê Ngọc Thảo L 5 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024

Áp dụng Điều 329 BLTTHS, tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung cho tất cả các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 ruột nồi cơm điện, 01 cốc sứ, cả hai đều dính các loại ma túy loại Methamphetamine, ketamine và N (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 đĩa sứ chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 ống tẩu được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000đ dính ma túy loại Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 thẻ cứng ghi chữ nước ngoài dính ma túy màu trắng là ma túy loại Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Thái Bá C và giám định viên);
  • + 01 hộp bìa các tông màu vằng bên trong in chữ Louis Vuiton bên trong có 01 cân điện tử màu đen dính ma túy loại ma túy loại Ketamine, 01 túi linon màu trắng chứa 15 viên nén màu trắng là ma túy loại MDMA và 01 túi nilonchứa tinh thể màu trắng là loại ma túy Ketamine (đã được niêm phong bì thư có chữ ký của Hoàng Minh T5 và giám định viên);
  • + 01 loa màu đen

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax màu tím gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax màu xanh gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS ProMax màu vàng gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 ProMax màu trắng gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax gắn sim điện thoại
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn sim điện thoại
  • + 20.000₫

Buộc bị cáo Đ nộp lại 1.400.000đ, bị cáo T5 nộp lại 8.000.000₫ sung công quỹ Nhà nước.

(Đặc điểm vật chứng đúng như biên bản giao nhận vật chứng số ngày..... giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố H, số tiền đã chuyển vào Số tiền đã nộp vào số tài khoản 3949 ngày / /2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận N tại Kho bạc N1).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND thành phố H
  • - VKSND cùng cấp
  • - Thi hành án, Công an quận
  • - Các bị cáo
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn V

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HSST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 181/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thái Bá Chung & ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger