Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22-7-2024

V/v ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà
  • Các Hội thẩm nhân dân.
  • Ông Phạm Mạnh Hùng
  • Bà Nguyễn Thị Luyến
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 166/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Đặng Thị L; nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đề nghị xin xét xử vắng mặt;
  • - Bị đơn: A; nơi cư trú: # 300 Pungjeong-ri, Gaepo-myeon, Yecheon-gun, G-do, Hàn Quốc; vắng mặt nhưng có đề nghị xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Đặng Thị L trình bày:

Chị Đặng Thị L và anh An Seung S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 17/12/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại Việt Nam một thời gian ngắn, sau đó anh An S1 Su trở về Hàn Quốc và làm thủ tục bảo lãnh cho chị sang Hàn Quốc đoàn tụ. Đến ngày 27/7/2019, chị L sang Hàn Quốc đoàn tụ với anh An Seung S tại Hàn Quốc. Quá trình chung sống, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do phong tục tập quán khác nhau, bất đồng về ngôn ngữ, quan điểm sống khác nhau. Mâu thuẫn ngày càng lớn nên anh chị không thể có tiếng nói chung để hàn gắn tình cảm. Đến ngày 17/3/2024, chị L trở về Việt Nam sinh sống. Từ đó đến nay hai vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không ai còn quan tâm đến ai về mọi mặt. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ nên chị L đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị L được ly hôn với anh An Seung S.

Về con chung: Chị L và anh An S1 Su không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Đặng Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các bản tự khai đã được hợp pháp hóa lãnh sự, bị đơn là anh An Seung S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị L về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ, anh An Seung S đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh An S1 Su được ly hôn với chị Đặng Thị L.

Về con chung: Anh An Seung S và chị L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh An Seung S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Chị Đặng Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh An Seung S. Nguyên đơn là chị Đặng Thị L có nơi cư trú tại Hải Phòng, bị đơn là anh An Seung S hiện đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Do vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn”. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Chị Đặng Thị L và anh An S1 Su vắng mặt, có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh An Seung S.

2

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị L và anh An Seung S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 17/12/2018. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống, chị L và anh An S1 Su phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do phong tục tập quán khác nhau, bất đồng về ngôn ngữ, quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Nay cả hai anh chị đều xác định không còn tình cảm vợ chồng, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không ai còn quan tâm đến ai nên cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị L về việc xin ly hôn với anh An Seung S.

[4] Về con chung: Chị Đặng Thị L và anh An Seung S cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Đặng Thị L và anh An Seung S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đặng Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị L và anh An S1 Su được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị L.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị L được ly hôn anh An Seung S.
    2. Về con chung: Chị Đặng Thị L và anh An Seung S cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3

    1. Về tài sản chung: Chị Đặng Thị L và anh An Seung S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  1. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đặng Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000438 ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Đặng Thị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo:

    Chị Đặng Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.

    Anh An Seung S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

4

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thúy Hà

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 181/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger