TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 181/2023/HS-ST Ngày 21-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân
Ông Bùi Xuân Hưởng
Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Khánh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 155/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/HSST-QĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 với bị cáo:
NGUYỄN THỊ C; Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 24/6/1971 tại huyện V, tỉnh Thái Bình
Nơi ĐKHKTT: Tổ G, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi ở hiện nay: Tổ F, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy T và bà Trần Thị L (Đều đã chết). Bị cáo chưa có chồng, con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại tổ F, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân T1 – Sinh năm 1993
Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 10/7/2023, Nguyễn Thị C đang ở nhà tại số G, đường D thuộc tổ F, phường D, thành phố L thì có một người đàn ông không quen biết mang theo 01 cá thể Culi bán cho Nguyễn Thị C với giá 220.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ 45 phút ngày 12/7/2023, Nguyễn Thị C mang cá thể Culi đến đường H thuộc tổ A, phường C, thành phố L để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và chức vụ Công an thành phố L phát hiện bắt quả tang và thu giữ 01 cá thể động vật sống nghi là C1. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã bàn giao cho Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật H để chăm sóc, quản lý theo quy định
Tại kết luận giám định số 5284/KL-KTHS ngày 25/7/2023 của V Bộ C2 đã kết luận:
- Hình ảnh cá thể động vật nghi Culi được chụp trong bản ảnh ghi do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L lập ngày 12/7/2023 gửi giám định là loài: Cu li nhỏ, có tên khoa học là N pygmaeus.
- Xác định tình trạng bảo tồn của loài Culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus) theo quy định của pháp luật:
- - Loài Culi nhỏ (N1) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
- - Loài Culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus) có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
- - Loài Culi nhỏ (N1) có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C3
Tại kết luận giám định pháp y về tâm thần số 161/KLGĐ ngày 03/10/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc đã kết luận:
- - Nguyễn Thị C bị mắc bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng có mã F20.5 (Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi).
- - Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 12/7/2023, Nguyễn Thị C bị mắc bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng giai đoạn thuyên giảm, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- - Hiện tại Nguyễn Thị C bị mắc bệnh tâm thân phân liệt thể di chứng giai đoạn thuyên giảm, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi
Cáo trạng số 152/CT-VKS ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Thị C về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 65- Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C với mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi tư) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Do bị cáo bị tâm thần phân liệt thể di chứng giai đoạn thuyên giảm, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, trình độ văn hóa thấp, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 65- Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng để bị cáo tiếp tục được chữa bệnh và vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được tiếp tục chữa bệnh
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền. Về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không chỉ định người bào chữa cho bị cáo theo quy định tại Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên, tại giai đoạn truy tố Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã chỉ định người bào chữa cho bị cáo, tại các biên bản lấy lời khai, tại phiên tòa bị cáo không thay đổi lời khai và không có ý kiến gì về việc cơ quan điều tra không chỉ định người bào chữa. Do vậy, vi phạm về tố tụng này đã được khắc phục và không ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để kết luận ngày 12/7/2023 bị cáo Nguyễn Thị C đã thực hiện hành vi bán 01 cá thể Culi nhằm mục đích kiếm lời, cá thể Culi có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ, Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C3. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị C đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, ảnh hưởng đến sự bảo tồn đa dạng sinh học, mất cân bằng hệ sinh thái, môi trường sống tự nhiên. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bị tâm thần phân liệt thể di chứng giai đoạn thuyên giảm, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi tuy nhiên, bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo; tại thời điểm phạm tội và hiện nay bị cáo bị tâm thần phân liệt thể di chứng giai đoạn thuyên giảm, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, q khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 – Bộ luật hình sự, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, không gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng khi điều tra, xét xử vụ án. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Vì vậy, xét thấy, không cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù giam để bị cáo tiếp tục chữa bệnh và có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
[6] Về các vấn đề khác: Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.
Đối với 01 cá thể Culi đã tạm giữ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã bàn giao cho Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật H để chăm sóc, quản lý là phù hợp.
Đối với người đàn ông đã bán 01 cá thể Culi cho bị cáo ngày 10/7/2023, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ nên khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 65 - Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”
- Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Nguyễn Thị C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 181/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
- Số bản án: 181/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ C
