|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 181/2023/HS-ST Ngày: 22-11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Dương Lê Bửu Thiện; |
| Thẩm phán: | Ông Trần Nam Phương; |
| Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Thành Nam; |
| Ông Trần Thanh Hùng; | |
| Bà Hồ Thị Sự. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường 3 trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 210/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Quốc T, sinh ngày 28 tháng 4 năm 2001, tại tỉnh Đồng Nai.
Tên gọi khác: Niển.
Hộ khẩu thường trú: ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Châu ro; Tôn giáo: Phật Giáo;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Giới tính: Nam; Chức vụ (Đảng, chính quyền): Không; Trình độ học vấn: 06/12;
Con ông: Võ Quốc T1, sinh năm 1976 và bà: Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1978.
Bị cáo chưa có vợ, con.
1
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 13 tháng 01 năm 2022, theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số: 05/CSĐT-ĐTTH ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
*Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo: Ông Lê Văn C là Luật sư của Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số B đường C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
*Bị hại:
- Anh Lê Trần Anh K, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Ấp H, xã H, Thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo T, Luật sư C có mặt; bị hại Khoa vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 10 tháng 10 năm 2021, Võ Quốc T2, sinh năm: 1998 và anh Ngô Tuấn T3, sinh năm: 2003 cùng ngụ tại ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai uống rượu, bia với nhau tại nhà của anh T3. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T2 chuẩn bị về thì thấy nhóm thanh niên (chưa xác định lai lịch, địa chỉ) đang đứng nẹt pô xe mô tô ở đường. Cùng lúc này, các anh Phan Minh N, sinh năm: 2003, Liều Đình P, sinh năm: 2002, cùng thường trú tại xã N, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Văn L, sinh năm: 2001, Lê Trần Anh K, sinh năm: 2001 và Nguyễn Hữu C1, sinh năm: 2002 cùng ngụ tại ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai đang uống rượu, bia tại nhà của anh C1. Anh N nghe tiếng nẹt pô xe mô tô nên đến đòi đánh các thanh niên, T2 can ngăn nhưng bị anh N dùng tay đẩy ra, tưởng anh N đánh T2 nên T2 nhặt 01 ống tuýp sắt bên đường đánh trúng vào đầu anh N làm chảy máu và gây thương tích nhẹ nên từ chối giám định thương tích, sự việc được mọi người can ngăn nên T2 bỏ đi.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, T2 quay lại nói chuyện với các anh P, L, C1 và K. Lúc này, Võ Quốc T là em ruột của T2 nghe T2 bị đánh, T lấy con dao dài khoảng 20 cm, rộng khoảng 3 cm giấu trong túi quần đến đường số A, ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai thấy nhóm thanh niên, trong đó có T2 và các anh P, L, C1, K đang nói chuyện. T đi đến nói “Thằng nào đánh anh tao”, anh K nói “Tụi mày kéo tới đây làm gì, tưởng bọn tao sợ tụi mày chắc, ai cũng có một mạng hết, thích thì ra chơi”. Nghe anh K nói, T lấy con dao trong túi quần ra xông đến đâm 01 nhát trúng vào bụng của anh K gây thương tích, anh K ôm bụng bỏ chạy khoảng 02m thì ngã xuống đường và được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ.
2
* Đối với con dao mà Võ Quốc T dùng để đâm anh Lê Trần Anh K, sau khi bỏ trốn T đã vứt bỏ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không thu giữ được.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L xác định tại đường số A, tổ G, ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai là nơi Võ Quốc T dùng dao gây thương tích cho anh Lê Trần Anh K.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0853/TgT/2021 ngày 06 tháng 12 năm 2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận Lê Trần Anh K bị thương tích như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo vùng thượng vị lệch trái kích thước 3,5x0,3cm. Tỷ lệ: 02%.
- Sẹo mổ đường trắng giữa trên dưới rốn kích thước 15x0,4cm. Tỷ lệ: 02%.
- Sẹo mổ dẫn lưu hạ sườn phải kích thước 01x0,5cm. Tỷ lệ: 01%.
- Vết thương gan đã phẫu thuật khâu gan. Tỷ lệ: 31%.
- Vết thương tĩnh mạch chủ dưới đã phẫu thuật khâu tĩnh mạch hiện ổn định. Tỷ lệ: 51%
2. Kết luận:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Lê Trần Anh K là 68%.
3. Kết luận khác:
- Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.
* Trách nhiệm dân sự: Võ Quốc T đã bồi thường cho anh Lê Trần Anh K số tiền 95.000.000 đồng và được anh K làm đơn bãi nại không yêu cầu bồi thường thêm.
I. Truy tố: Cáo trạng số: 195/CT-VKS-P2 ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo:
- Võ Quốc T về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
II. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Xử phạt bị cáo Võ Quốc T từ 12 (mười hai) năm đến 14 (mười bốn) năm tù;
- Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
III. Quan điểm của Người bào chữa cho bị cáo Võ Quốc T tại phiên tòa:
Thống nhất theo đề nghị truy tố của đại diện Viện kiểm sát về tội danh đối
3
với bị cáo Võ Quốc T. Tuy nhiên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả; trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong vụ án này, bị cáo phạm tội phạm tội chưa đạt; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ ly hôn khi còn nhỏ; bị cáo là người dân tộc; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xử dưới khung hình phạt cho bị cáo.
IV. Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo cho rằng tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép buộc, không bị ép cung hay bức cung. Kết luận điều tra cũng như Bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước tòa hoàn toàn phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tụng tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
[2] Về tội danh:
Khoảng 22 giờ ngày 10 tháng 10 năm 2021, tại đường số A, ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, do Võ Quốc T nghe anh ruột là Võ Quốc T2 bị đánh nên T mang theo con dao dài khoảng 20 cm, rộng khoảng 3 cm giấu trong túi quần. Tại đây, T gặp Võ Quốc T2 và các anh Liều Đình P, Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu C1, Lê Trần Anh K nên T nói “Thằng nào đánh anh tao”, anh K nói “Tụi mày kéo tới đây làm gì, tưởng bọn tao sợ tụi mày chắc, ai cũng có một mạng hết, thích thì ra chơi”, T lấy con dao trong túi quần ra đâm 01 nhát trúng vào vùng bụng (là vùng trọng yếu của cơ thể) của anh K gây thương tích gan, tĩnh mạch chủ với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Lê Trần Anh K là 68%. Anh Lê Trần Anh K không chết là do được cấp cứu kịp thời;
Hành vi của bị cáo Võ Quốc T đã phạm tội “Giết người”, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố, là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[3] Đánh giá về tích chất mức độ hành vi của các bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm và đặc biệt nghiêm trọng, có thể xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của cộng đồng, tác động rất xấu đến tình hình trị an tại địa phương; trong vụ án này, giữa bị cáo và bị hại không có sự mâu thuẫn, nhưng bị cáo dùng dao đâm vào bụng bị hại, là thể hiện
4
tính chất côn đồ. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo là người dân tộc; được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; do vậy, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra không thu hồi được, nên không xem xét giải quyết.
[5] Về dân sự, người bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì khác, nên không xem xét giải quyết.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được ghi nhận.
[7] Lời bào chữa của Luật sư cho bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được xem xét chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Võ Quốc T phạm tội “Giết người”.
1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Võ Quốc T 11 (Mười một) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 01 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra không thu hồi được, nên không xem xét giải quyết.
3. Về dân sự, người bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì khác, nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Lê Bửu Thiện |
6
7
Bản án số 181/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về giết người
- Số bản án: 181/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội giết người
