|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 181/2024/HS-ST Ngày: 29-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đình Hưng.
2. Bà Vương Thị Dung.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 209/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đăng K – sinh ngày 11/6/2007 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Ngọc L – sinh năm 1978 và Nguyễn Thị P – sinh năm 1984; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không.
Bị cáo được khởi tố bị can tại ngoại từ ngày 14/7/2024 cho đến nay “có mặt".
- Đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai “có mặt”.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ “có mặt”.
- Bị hại: Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1956. Nơi cư trú: ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai “có mặt”
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Diễm N, sinh năm 1974. Nơi cư trú: ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đăng K là cháu ngoại của ông Nguyễn Quốc V.
Do cần tiền tiêu xài và để chuộc lại điện thoại di động đã cầm cố nên vào khoảng 18 giờ ngày 16/3/2024, Nguyễn Đăng K đi bộ đến nhà ông V để trộm cắp tài sản. Thấy cửa bên hông phía sau nhà của ông V không đóng nên K đi vào nhà ông V rồi đi vào phòng ngủ của ông V. Do K biết bên trong tủ gỗ bằng ván ép ở trong phòng ngủ của ông V có tài sản nên K đã dùng tay và chân kéo cánh cửa tủ ra và trộm cắp số tài sản có ở trong tủ gồm: 14 tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng cùng 01 lon kim loại bên trong đựng 14 nhẫn kim loại màu vàng, 02 dây chuyền có mặt bằng kim loại màu vàng đính đá và 01 đôi bông tai kim loại màu vàng. Sau khi trộm cắp số tài sản trên, K giấu lon kim loại bên trong đựng số kim loại màu vàng ở hốc thùng xe máy cày đậu tại sân nhà K và giấu 4.000.000 đồng trong đống củi sau bếp nhà K. Đến khoảng 18 giờ 20 phút ngày 16/3/2024, K mang số tiền là 3.000.000 đồng đến trả cho bà Trần Thị Diễm N ở ấp A, xã P để chuộc lại chiếc điện thoại di động Iphone 13 mà K đã cầm trước đó.
Nhận được trình báo của ông Nguyễn Quốc V, Công an xã P đã tiến hành các hoạt động xác minh, điều tra ban đầu và triệu tập Nguyễn Đăng K để làm việc. Tại Cơ quan Công an, K đã thừa nhận hành vi trộm cắp của mình như đã nêu trên và tự nguyện giao nộp lại số tài sản trộm cắp được đã cất giấu.
* Tài sản thiệt hại:
- - Tiền mặt: 7.000.000 đồng.
- - 10 nhẫn kim loại màu vàng có ký hiệu 1c (9999).
- - 01 nhẫn kim loại màu vàng có ký hiệu 1c (24K).
- - 02 nhẫn kim loại màu vàng có ký hiệu 05c (24K).
- - 01 nhẫn kim loại màu vàng có ký hiệu JH.
- - 02 dây chuyền có mặt bằng kim loại màu vàng đính đá ký hiệu 610.
- - 01 đôi bông tai kim loại màu vàng (không có ký hiệu).
Căn cứ Kết luận giám định số 2076/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định:
- - 13 nhẫn kim loại màu vàng, tổng khối lượng: 45,0476 gam (ký hiệu M1) gửi giám định có thành phần chính là V1 (A), hàm lượng trung bình là: 98,55%.
- - 01 nhẫn kim loại màu vàng, khối lượng: 1,1409 gam (ký hiệu M2) gửi giám định có thành phần kim loại chính là N1 (Ni), hàm lượng: 77,28%; Đồng (Cu), hàm lượng: 12,05%. Mẫu được mạ một lớp kim loại Vàng (A) rất mỏng, không xác định hàm lượng được.
- - 01 đôi bông tai kim loại màu vàng, khối lượng: 4,1420 gam (ký hiệu M3) gửi giám định có thành phần kim loại chính là V1 (Au), hàm lượng: 98,08%.
- - 02 sợi dây chuyền có mặt bằng kim loại màu vàng đính đá, tổng khối lượng (cả đá): 29,7239 gam (ký hiệu M4) gửi giám định có thành phần kim loại chính là V1 (Au), hàm lượng: 63,63%; Đồng (Cu), hàm lượng: 23,38%; Bạc (A), hàm lượng: 12,99%.
2
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ ngày 10/5/2024 kết luận tổng giá trị của số vàng nêu trên là 117.036.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Đăng K đã trộm cắp của ông Nguyễn Quốc V là: 7.000.000 đồng + 117.036.000 đồng bằng 124.036.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- - Tiền mặt: 7.000.000 đồng (trong đó có 3.000.000 đồng do bà Trần Thị Diễm N tự nguyện giao nộp và 4.000.000 đồng do Nguyễn Đăng K tự nguyện giao nộp).
- - 13 nhẫn vàng, 01 nhẫn mạ vàng, 02 dây chuyền vàng đính đá và 01 đôi bông tai vàng.
Tại Cáo trạng số 326/CT-VKSĐQ ngày 31 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự tuyên bị cáo Nguyễn Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.
Kiểm sát viên còn nêu quan điểm về biện pháp tư pháp và án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo tranh luận:
Thống nhất về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như bản thân bị cáo khi phạm tội là người chưa thành niên nên hiểu biết pháp luật sẽ có sự hạn chế; bị cáo đang là học sinh; bị cáo và bị hại có mối quan hệ là ông cháu khi lượng hình.
Đại diện hợp pháp của bị cáo tranh luận:
Đồng ý với ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thể tiếp tục đi học.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo đồng ý với ý kiến tranh luận của người bào chữa và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thể tiếp tục đi học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ để kết tội đối với bị cáo: Căn cứ vào bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung và sự thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo và lời khai của bị hại phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ, thể hiện: Vào khoảng 18 giờ ngày 16/3/2024, Nguyễn Đăng K đã lén lút vào nhà ông Nguyễn Quốc V (là ông ngoại của K) ở ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và trộm cắp số tài sản gồm: tiền mặt là 7.000.000 đồng, 14 nhẫn vàng, 01 đôi bông tai vàng và 02 sợi dây chuyền vàng đính đá của ông V. Tổng giá trị tài sản mà K đã trộm cắp là 124.036.000 đồng. Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 326/CT-VKSĐQ ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử với mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đăng K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, năn năn hối cải thuộc trường hợp quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, Nguyễn Đăng K đã tự nguyện giao nộp lại tài sản đã trộm cắp; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và hiện đang là học sinh; tài sản bị trộm cắp đã được thu hồi toàn bộ và trao trả cho người bị hại; người bị hại đã làm đơn bãi nại, đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với K; khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
4
[5] Về hình phạt: Xét thấy, bị cáo K có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục là đủ nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- - Ông Nguyễn Quốc V đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu Nguyễn Đăng K phải bồi thường. Đồng thời, ông V đã làm đơn bãi nại, đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với K.
- - Đối với bà Trần Thị Diễm N, quá trình điều tra xác định khi nhận 3.000.000 đồng từ Nguyễn Đăng K để chuộc lại điện thoại di động, bà N không biết đó là tiền do K trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý đối với bà N. Trong quá trình điều tra, bà N đã tự nguyện giao nộp lại số tiền 3.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra để trao trả cho ông V; đồng thời, gia đình của K đã trả lại 3.000.000 đồng cho bà N nên bà N không có có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với K.
[7] Về vật chứng vụ án:
- - Tiền mặt: 7.000.000 đồng (trong đó có 3.000.000 đồng do bà Trần Thị Diễm N tự nguyện giao nộp và 4.000.000 đồng do Nguyễn Đăng K tự nguyện giao nộp).
- - 13 nhẫn vàng, 01 nhẫn mạ vàng, 02 dây chuyền vàng đính đá và 01 đôi bông tai vàng.
Số tài sản trên đã được Cơ quan điều tra thu hồi toàn bộ và trao trả cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Quốc V.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Đề nghị của Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo, biện pháp tư pháp trong vụ án là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
5
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đăng K cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đăng K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Viễn |
6
7
Bản án số 181/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 181/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYEN DANG K pham toi trom cap tai sản
