|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 181/2024/HS-ST Ngày: 28/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lã Văn Luật
2. Ông Nguyễn Thanh Vũ
Thư ký phiên tòa: Ông Vi Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 169/2024/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 280/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Vương Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/03/1993 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Đ, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Con ông: Vương Văn T (đã chết); Con bà: Hoàng Thị T1 - sinh 1958; HKTT: Xóm Đ, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: Bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ, con: không có.
Tiền án: Ngày 20/01/2022 Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 14/08/2012 Toà án nhân dân huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về hành vi Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo Tô Vũ H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/12/1994 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm A, xã V, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Con ông: Tô Vũ L - sinh 1970; Con bà: Nguyễn Thị N - sinh 1974 (đều có địa chỉ: Xóm A, xã V, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); A, chị, em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Nông Thị L1 - sinh năm 1995 (HKTT: Đàm Thuỷ, T, Cao Bằng); con: có 01 con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 12/03/2013 Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.
Ngày 07/03/2017 Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.
Ngày 07/11/2018 Công an phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Vương Thị H2 - sinh năm 1982;
Địa chỉ: Xóm Đ, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng;
(Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 12/8/2024, Vương Văn H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, biển kiểm soát 11H1 - 271.92 từ nhà ra khu vực bến xe khách liên tỉnh Cao Bằng. Tại đây, H gặp một người đàn ông không quen biết, dáng giống người nghiện nên đã hỏi mua Heroine với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Người này đồng ý, nhận tiền và đưa lại cho H 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa Heroine. Hưu cất gói ma túy vào trong người rồi điều khiển xe mô tô trở về nhà, tách một phần Heroine vừa mua được ra sử dụng cho bản thân và cất số Heroine còn lại trên người. Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 13/8/2024, H tách lấy một phần ma tuý và gói vào giấy bạc màu vàng rồi cất để trong người, số còn lại H gói lại và để ở trong nhà. Sau đó H mang theo ma túy trên người, điều khiển xe mô tô đến khu vực chợ C thuộc xóm H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Khi cách chợ C khoảng 200m thì gặp Tô Vũ H1. H1 hỏi H có ma túy thì bán cho H1 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), H đồng ý, nhận tiền và đưa lại cho H1 (01) gói Heroine. Sau đó H trở về nhà và lấy gói Heroine còn lại cất vào trong túi quần đằng sau bên phải chiếc quần đang mặc. H1 sau khi mua được H3, đi đến khu vực thuộc xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng tìm chỗ sử dụng, thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố C bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine (có khối lượng 0.11g). Mở rộng điều tra, cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp đối với Vương Văn H, thu giữ 01 gói Heroine (có khối lượng 0,14g), tiền mặt 200.000 đồng, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, biển kiểm soát 11H1 -271.92.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành Trưng cầu giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 1202 ngày 14/8/2024 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 482/KL-KTHS ngày 21/08/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: "chất bột màu trắng gửi giám định thu giữ của Vương Văn H và Tô Vũ H1 là ma tuý, loại Heroine".
Tại phiên tòa bị cáo Vương Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai nhận nhằm mục đích tìm ma túy về sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời nên ngày 12/8/2024 bị cáo một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, biển kiểm soát 11H1 - 271.92 đến bến xe khách tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma tuý. Tại đây bị cáo gặp một người đàn ông không biết tên và địa chỉ dáng giống người nghiện nên đã hỏi mua ma tuý với số tiền 1.000.000 đồng và được người đàn ông đó đồng ý và đưa cho một gói giấy bạc màu vàng, số tiền bị cáo sử dụng để mua ma túy là của bị cáo lao động mà có, sau khi mua được ma túy bị cáo về nhà và tách lấy một phần ma tuý ra sử dụng cho bản thân và cất số ma tuý còn lại trên người. Ngày 13/8/2024, bị cáo tách một phần ma túy và gói vào giấy bạc màu vàng cất theo người, còn phần còn lại để ở nhà. Khoảng 11h00 bị cáo điều khiển xe đến khu vực chợ C, khi cách chợ C khoảng 200m thì gặp Tô Vũ H1 hỏi mua ma tuý nên bị cáo đã bán ma tuý cho H1 với số tiền 200.000 đồng. Sau khi bán được ma tuý bị cáo điều khiển xe về nhà lấy gói ma tuý còn lại cất vào trong túi quần đằng sau bên phải chiếc quần đang mặc. Số tiền 200.000 đồng bị cáo bị thu giữ là do bán ma tuý cho Tô Vũ H1 mà có. Đối với chiếc điện thoại bị thu giữ bị cáo sử dụng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo, chiếc xe máy bị thu giữ là của chị gái bị cáo, bị cáo sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội, chị gái bị cáo không biết. Bị cáo nhất trí với khối lượng chất ma túy và kết luận giám định chất ma túy của phòng K.
Tại phiên tòa bị cáo Tô Vũ H1 thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với biên bản cân khối lượng ma túy và kết luận giám định số 482/KL-KTHS ngày 21/8/2024. Bị cáo khai nhận mua ma túy về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, số tiền bị cáo sử dụng để mua ma túy là tiền của bị cáo lao động mà có. Bị cáo mua ma tuý về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân không có mục đích nào khác.
Tại phiên tòa các bị cáo bày tỏ thái độ ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bản thân.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vương Thị H2 vắng mặt tại phiên tòa, trong đơn xin xét xử vắng mặt bà H2 vẫn giữ nguyên lời khai đã trình bày trước đây và xác nhận đã được cơ quan cảnh sát điều tra trả lại chiếc xe máy, bà không có yêu cầu gì thêm. Do bận công việc nên bà đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt bà.
Hành vi của bị cáo Vương Văn H đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi của bị cáo Tô Vũ H1 đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số: 177/CT-VKSTP ngày 06/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Vương Văn H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và truy tố bị cáo Tô Vũ H1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với bị cáo Vương Văn H có một tiền án chưa được xóa án tích, do vậy phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Tô Vũ H1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Vương Văn H.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Tô Vũ H1.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vương Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; bị cáo Tô Vũ H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Vương Văn H từ 36 - 42 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Tô Vũ H1 từ 15-18 tháng tù
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
- Tịch thu, tiêu hủy:
01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “số 482/KL-KTHS Hoàn lại mẫu sau giám định vụ Vương Văn H, Tô Vũ H1 có hành vi Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 13/8/2024”. Mặt sau có chữ kí của thành phần tham gia niêm phong và 04 (bốn) dấu tròn của Phòng K - Công an tỉnh C;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Vương Văn H do liên quan đến hành vi phạm tội.
Cơ quan công an thành phố C đã chuyển số tiền trên vào tài khoản 3949.0.1035584.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Ủy nhiệm chi số 45 ngày 11/11/2024)
- Hoàn trả lại cho bị cáo Vương Văn H:
01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, mặt sau có chữ SAMSUNG, số IMEI: 354035900319276/01, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm quay trở về với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định được: Vào hồi 11 giờ 15 phút ngày 13/8/2024 tại xóm H, xã H, thành phố C, tổ công tác Công an thành phố C bắt quả tang Tô Vũ H1 có hành vi tàng trữ 0,11g (không phẩy mười một gam) Heroine mua với Vương Văn H, mục đích sử dụng cho bản thân. Hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày tại xóm Đ, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng, Công an thành phố C khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Vương Văn H, phát hiện Vương Văn H tàng trữ 0,14 g (không phẩy mười bốn gam) ma túy Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Do vậy, Vương Văn H phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi mua bán trái phép 0,25g (không phẩy hai mươi năm gam) Heroine, Tô Vũ H1 phải chịu trách nhiệm trách nhiệm trước pháp luật về hành vi tàng trữ trái phép 0,11g (không phẩy mười một gam) Heroine.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo Vương Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015
Hành vi của bị cáo Tô Vũ H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo là người người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, bị cáo Vương Văn H đã nhiều lần bị Toà án xét xử về các hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo Tô Vũ H1 đã nhiều lần bị cơ quan công an xử phạt hành chính đến các hành vi vi phạm pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo hành về vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vương Văn H có 01 tiền án chưa được xóa án tích, do vậy phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Tô Vũ H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
[4]. Về hình phạt chính: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Vương Văn H từ 36 - 42 tháng tù; đối với bị cáo Tô Vũ H1 từ 15-18 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “số 482/KL-KTHS Hoàn lại mẫu sau giám định vụ Vương Văn H, Tô Vũ H1 có hành vi Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 13/08/2024”. Mặt sau có chữ kí của thành phần tham gia niêm phong và 04 (bốn) dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh C; xét thấy đây là chất ma tuý nhà nước cấm, do vậy cần tịch thu tiêu huỷ
Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Vương Văn H do liên quan đến hành vi phạm tội, do vậy cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, mặt sau có chữ SAMSUNG, số IMEI: 354035900319276/01, điện thoại cũ đã qua sử dụng. xét thấy bị cáo Vương Văn H sử dụng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội do vậy cần hoàn trả lại cho bị cáo Vương Văn H
[7]. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số Heroine thu giữ với bị cáo Vương Văn H, bị cáo khai được mua với một người đàn ông không rõ tên và địa chỉ tại B tỉnh Cao Bằng. Quá trình trao đổi mua bán không ai biết, chứng kiến nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có căn cứ để xử lý.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, biển kiểm soát: 11H1 - 271.92, quá trình điều tra xác định chiếc xe là của Vương Thị H2 là chị ruột của H. Đầu năm 2024, H2 đi làm thuê tại Hà Nội nên để xe ở nhà, H đã hỏi mượn xe của H2 một thời gian để đi lại tìm việc làm thuê nên H2 đã đồng ý. Việc H sử dụng xe thực hiện hành vi vi phạm pháp luật H2 không biết. Do vậy, ngày 10/10/2024 cơ quan điều tra đã trả lại xe cho Vương Thị H2 quản lý và sử dụng. Bà Vương Thị H2 xác nhận đã nhận lại được chiếc xe và không yêu cầu gì khác do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Vương Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; Bị cáo Tô Vũ H1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Vương Văn H 30 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 13/08/2024.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Tô Vũ H1 15 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 13/08/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
- Tịch thu, tiêu hủy:
01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “số 482/KL-KTHS Hoàn lại mẫu sau giám định vụ Vương Văn H, Tô Vũ H1 có hành vi Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 13/08/2024”. Mặt sau có chữ kí của thành phần tham gia niêm phong và 04 (bốn) dấu tròn của Phòng K - công an tỉnh C;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Vương Văn H do liên quan đến hành vi phạm tội.
Cơ quan công an thành phố C đã chuyển số tiền trên vào tài khoản 3949.0.1035584.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Ủy nhiệm chi số 45 ngày 11/11/2024.
- Hoàn trả lại cho bị cáo Vương Văn H:
01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, mặt sau có chữ SAMSUNG, số IMEI: 354035900319276/01, điện thoại cũ đã qua sử dụng
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 23 ngày 19/11/2024 .
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc bị cáo Vương Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Xử buộc bị cáo Tô Vũ H1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lý Xuân Huy |
Bản án số 181/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 181/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý
