|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 181/2024/DS-ST
Ngày: 26-11-2024
V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Chung Quốc Hội.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Trần Văn Thuận.
Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đình Toàn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dũng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 350/2024/TLST-DS, ngày 30/5/2024, về: “Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/QÐST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH D.
Địa chỉ: Tổ A, khu phố E, phường A, thành phố P, Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Minh V – Giám đốc (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Cảnh T, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, ông Trương Minh V là đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH D trình bày:
Vào ngày 25/4/2023, Công ty TNHH D (sau đây gọi tắt là Công ty D) và ông Lê Cảnh T có ký kết thỏa thuận Công ty D thi công hai công trình là Trường THCS A và Trường THCS G theo yêu cầu của ông Lê Cảnh T, vì ông T là đơn vị thi công xây dựng 02 công trình trên. Giá trị hợp đồng của 02 công trình là 1.908.397.500 đồng, trong đó giá trị của hợp đồng thi công Trường THCS An Thới 1 là 1.057.437.000 đồng và giá trị của hợp đồng thi công Trường THCS Gành Dầu là 850.960.000 đồng. Thời hạn thực hiện hợp đồng và hoàn thành công trình không ghi cụ thể trong hợp đồng, hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói thời hạn bắt đầu thi công là ngày 10/5/2023 đến khi hoàn thành công trình, đến ngày 11/01/2024 thì hoàn thành công trình.
Quá trình thực hiện hợp đồng, tổng khối lượng thi công và giá trị thanh toán tăng so với hợp đồng ban đầu là 2.008.320.227 đồng. Ngày 04/01/2024, Công ty D và ông T cùng ký kết Bảng xác nhận khối lượng và giá trị thanh toán xác nhận ông T còn nợ lại 335.957.737 đồng. Đến ngày 05/01/2024 ông T tiếp tục thanh toán 50.000.000 đồng, còn nợ lại công ty số tiền 285.957.737 đồng. Đến ngày 16/4/2024, ông T chuyển khoản cho Công ty D 10.000.000 đồng và tính đến thời điểm hiện tại còn nợ công ty 275.957.737 đồng.
Ông Lê Minh V1 yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Lê Cảnh T trả cho Công ty TNHH D số tiền nợ 275.957.737 đồng. Buộc ông Lê Cảnh T phải chịu lãi suất theo quy định pháp luật phát sinh từ ngày 15/01/2024 đến ngày xét xử (tức 26/11/2024) là 10.000.000 đồng.
Bị đơn ông Lê Cảnh T đã được Tòa án triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai của ông T trong hồ sơ vụ án và ông không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng và xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, Thẩm phán đã vi phạm về thời hạn thụ lý và thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 3 Điều 195, khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa dân sự sơ thẩm. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn đã chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo định tại Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt, vi phạm Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ông Lê Cảnh T vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông T.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ đơn khởi kiện của Công ty TNHH D và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Các bên thực hiện Hợp đồng thi công xây dựng số 01/TM/BĐ2023 ngày 25/4/2023 tại P. Căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về hình thức hợp đồng:
Ngày 25/4/2023, Công ty TNHH D và ông Lê Cảnh T có ký kết Hợp đồng thi công số 01/TM/BĐ2023 để thỏa thuận thi công công trình dự án Trường Trung học cơ sở G và Trường Trung học cơ sở A, hợp đồng do hai bên ký kết, không có công chứng, chứng thực, phù hợp quy định tại Điều 138, 139 Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020.
[3.2] Về nội dung hợp đồng:
Sau khi xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự thể hiện: Vào ngày 25/4/2023 Công ty TNHH D và ông Lê Cảnh T có ký kết Hợp đồng thi công số 01/TM/BĐ2023 để thực hiện thi công 02 công trình dự án Trường Trung học Cơ sở G và Trường Trung học cơ sở A, với giá trị hợp đồng là 1.908.397.500 đồng, trong đó giá trị của hợp đồng thi công Trường THCS An Thới 1 là 1.057.437.000 đồng và giá trị của hợp đồng thi công Trường THCS Gành Dầu là 850.960.000 đồng (BL 04 - 13). Ngày 04/01/2024, Công ty D và ông T cùng ký kết Bảng xác nhận khối lượng và giá trị thanh toán xác nhận ông T còn nợ lại 335.957.737 đồng (BL 18). Tại phiên tòa, ông V1 xác nhận ông T có chuyển khoản thanh toán 02 lần với tổng số tiền 60.000.000 đồng vào ngày 05/01/2024 và ngày 16/4/2024, Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình thỏa thuận và thực hiện hợp đồng xây dựng Công ty D đã thực hiện đúng nội dung hợp đồng, cả hai bên cùng xác nhận khối lượng và giá trị thanh toán ngày 04/01/2024, do dó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên chấp nhận. Buộc ông Lê Cảnh T thanh toán cho Công ty TNHH D số tiền 275.957.737 đồng.
Xét yêu cầu tính lãi: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng nên phải có nghĩa vụ chịu lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015. Căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 lãi suất được xác định bằng 50% gới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương đương 0,83%/tháng. Tuy nhiên, ông V1 chỉ yêu cầu tính lãi suất trên số tiền 275.000.000 đồng từ ngày 15/01/2024 đến ngày xét xử (tức 26/11/2024) là 10.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu của ông V1 là thấp hơn quy định của pháp luật, nhưng đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Như vậy, ông T có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH D số tiền nợ 275.000.000 đồng và lãi là 10.000.000 đồng, tổng cộng là 285.000.000 đồng.
[3.3] Theo Đơn khởi kiện ngày 08/3/2024, Công ty TNHH D yêu cầu ông T trả số tiền nợ 285.000.000 đồng và tiền lãi 10.000.000 đồng, tổng cộng là 295.000.000 đồng. Tại phiên tòa, ông V1 xác nhận yêu cầu ông T trả số tiền nợ 275.000.000 đồng và tiền lãi 10.000.000 đồng, Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH D.
[4] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Lê Cảnh T phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền phải trả 285.000.000 đồng là 14.250.000 đồng, được tính như sau: 285.000.000 đồng x 5% = 14.250.000 đồng.
Hoàn trả cho Công ty TNHH D số tiền án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 244; Điều 266; Điều 267; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 357; 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 138; 139; 147 Bộ luật Dân sự năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH D.
Buộc ông Lê Cảnh T trả cho Công ty TNHH D số tiền 285.000.0000 đồng (hai trăm tám mươi lăm triệu đồng), gồm tiền nợ là 275.000.000 đồng và tiền lãi là 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH D về việc rút yêu cầu ông Lê Cảnh T trả số tiền nợ 10.000.000 đồng.
3. Về án phí sơ thẩm:
Ông Lê Cảnh T phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 14.250.000 đồng (được tính như sau: 285.000.000 đồng x 5% = 14.250.000 đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.
Hoàn trả lại cho Công ty TNHH D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.375.000 đồng (bảy triệu ba trăm bảy mươi lăm đồng) theo Biên lai thu số 0000205 ngày 15/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.
4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Chung Quốc Hội |
Bản án số 181/2024/DS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
- Số bản án: 181/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
