|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 181/2024/HSST Ngày: 20/11/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải.
2. Bà Nguyễn Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Ngọc Mai, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Lê Hưng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2024/TLST-HS ngày 03/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Duy P; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1988 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp khi thực hiện hành vi phạm tội: Công nhân; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Lê Duy Đ và bà Phạm Thị S; Có vợ là Đặng Thị Thương A; Vợ chồng có 02 con chung (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2019).
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Công ty cổ phần P1
Địa chỉ: TDP Thượng, phường Thuận Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1973; Trú tại: Tổ A, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội (có mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2
- Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1984; Trú tại: TDP R, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Anh Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1986; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: TDP L, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Duy P là công nhân của Công ty cổ phần P1 (viết tắt là Công ty P2). Trong quá trình làm việc, do biết tủ chứa dụng cụ sửa chữa gần khu vực P làm việc có để nhiều vật dụng và biết anh Hoàng Văn B là công nhân Phòng dịch vụ kỹ thuật quản lý chùm chìa khóa của tủ chứa dụng cụ sửa chữa nên P nảy sinh ý định trộm cắp đá mài của Công ty P2. Tối ngày 15/6/2024, P đến Công ty làm việc thì thấy tủ cá nhân của anh B không khóa, P đi đến mở tủ ra và lấy chùm chìa khóa cất vào trong người. Đến khoảng 05 giờ ngày 16/6/2024, P đi qua khu vực tủ chứa dụng cụ sửa chữa không thấy có ai nên đã lấy chùm chìa khóa của anh B ra để thử từng chìa thì mở được khóa tủ chứa dụng cụ sửa chữa. P nhìn vào bên trong nhưng không thấy có đá mài mà chỉ có một số thiết bị trong đó có chiếc máy mài nhãn hiệu Makita cầm tay, sau đó P lấy chiếc máy mài ra khỏi tủ và giấu dưới gầm tủ để khi hết giờ làm sẽ mang ra khỏi công ty. Khoảng 06 giờ cùng ngày khi tan làm, P đi đến chỗ để chiếc máy mài ở dưới gầm tủ, quan sát xung quanh không có người nên đã cầm chiếc máy mài giấu vào bên trong người rồi đi ra nhà xe. Sau đó, P lấy áo mưa trong cốp xe ra quấn bên ngoài chiếc máy mài để tránh sự phát hiện của bảo vệ, còn chùm chía khóa P để lại vào ngăn tủ của anh B rồi đi xe máy về nhà. Đến ngày 18/6/2024, Công ty P2 phát hiện bị mất tài sản nên đã trình báo Công an phường T giải quyết, đồng thời P đã tự nguyện giao nộp chiếc máy mài cho Công an phường T và khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Sau đó, Công an phường T đã chuyển hồ sơ, tài liệu vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản Kết luận định giá số 79/KL-HĐĐG ngày 08/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố P, kết luận: “01 máy mài góc dùng pin nhãn hiệu Makita, model: DGA414, màu xanh; bên trong có lắp pin điện nhãn hiệu Makita loại 3.0Ah 18V. Máy mài đã qua sử dụng, hiện trạng còn nguyên vẹn và hoạt động bình thường... trị giá là: 3.407.250 đồng”.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 máy mài góc dùng pin nhãn hiệu Makita, model: DGA414, vỏ màu xanh đen, bên trong có lắp pin điện nhãn hiệu Makita loại 3.0Ah 18V, đã qua sử dụng, hiện đang hoạt động bình thường. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty
3
- P2 để quản lý sử dụng.
- - 01 áo mưa màu đỏ, đã qua sử dụng được niêm phong trong niêm phong kí hiệu M được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Anh T (sinh năm 1973; trú tại tổ A, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội) là người được Công ty P2 ủy quyền đại diện tham gia giải quyết vụ án không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự đối với P.
Với nội dung nêu trên, Bản cáo trạng số 149/CT-VKSPY ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Duy P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Duy P về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Duy P từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung bị cáo. Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Duy P đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội, nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Nói lời sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt bị hại và người chứng kiến. Tuy nhiên, xét thấy những người này đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử.
4
Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có tên trên theo quy định.
- [3] Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Duy P tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 05 giờ 00 ngày 16/6/2024, tại khu vực tủ chứa dụng cụ sửa chữa của Công ty Cổ phần P1 thuộc tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Lê Duy P đã có hành vi trộm cắp 01 máy mài góc dùng pin nhãn hiệu Makita, model: DGA414, màu xanh; bên trong có lắp pin điện nhãn hiệu Makita loại 3.0Ah 18V của Công ty Cổ phần P1. Giá trị tài sản do P chiếm đoạt là 3.407.250 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định:
Điều 173 Bộ luật hình sự.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
- [3] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục, phòng ngừa chung
- [4] Tuy nhiên, xem xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bị cáo Lê Duy P là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, bị cáo cũng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội
5
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. HĐXX thấy rằng không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng đủ sức để răn đe, giáo dục và không gây nguy hiểm cho xã hội.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo đã bị Công ty Cổ phần P1 cho thôi việc, hiện nay bị cáo không có công việc ổn định, cũng không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [6] Về vật chứng: Đối với chiếc áo mưa màu đỏ (niêm phong trong niêm phong kí hiệu M) bị cáo sử dụng để giấu chiếc máy mài đem ra khỏi công ty cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 máy mài góc dùng pin nhãn hiệu Makita, model: DGA414, vỏ màu xanh đen, bên trong có lắp pin điện nhãn hiệu Makita loại 3.0Ah 18V, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty P2 để quản lý sử dụng. Việc trả lại của Cơ quan điều tra là đúng nên HĐXX không xem xét.
- [7] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị trộm cắp đã được thu hồi lại và trả cho chủ sở hữu. Bị hại, các đương sự trong vụ án đều không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự đối với P nên HĐXX không xem xét.
- [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
- [9] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
- [10] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Về hình phạt: Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt:
Lê Duy P 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo P cho UBND phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nơi bị cáo hiện đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho
6
hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01chiếc áo mưa màu đỏ, đã qua sử dụng được niêm phong trong niêm phong kí hiệu M.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 106/QĐ-VKSPY ngày 19/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cùng biên bản giao nhận vật chứng kèm theo)
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Duy P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Minh Quang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Minh Quang |
7
Bản án số 181/2024/HSST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 181/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 9 tháng treo
