Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HS-ST

Ngày: 18/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Thu Ba

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 173/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2024/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Đinh Phú L, Giới tính: Nam.

Sinh ngày 09 tháng 01 năm 2000, tại: Cần Thơ.

Nơi ĐKTT: Ấp Thới Phong B, xã Xuân Thắng, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở: Khu phố 1, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Làm thuê;Trình độ học vấn: 09/12.

Cha: Đinh Thanh M, sinh năm 1968, còn sống.

Mẹ: Trần Thị P, sinh năm 1969, còn sống.

Vợ, con: Chưa.

Anh ruột: Có 01 người, sinh năm 1996.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Về nhân thân: Ngày 24/11/2020, bị Toà án nhân dân huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ xét xử, tuyên phạt 01 năm tù về tội: Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm a khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự (theo Bản án sơ thẩm số 38/2020/HSST); chấp hành xong ngày 16/6/2021, thuộc trường hợp được coi là không có án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024.

2. Họ và tên: Lê Thị Ngọc T, Giới tính: Nữ

Sinh ngày 08 tháng 01 năm 2004 tại: K, Kiên Giang.

Nơi ĐKTT: Ấp Hòa Giang, xã Hoà Điền, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: Khu phố 1, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: 07/12

Cha: Lê Hữu L1, sinh năm 1978, đã chết.

Mẹ: Bùi Thúy L2, sinh năm 1982, còn sống.

Chồng, con: Chưa

Em ruột: 02 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Chưa

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ, ngày 24/6//2024, Đinh Phú L đang ở tại phòng số A, nhà nghỉ T1, thuộc khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì có người phụ nữ tên M1 (chưa rõ nhân thân) dùng ứng dụng Z gọi cho L để tìm 01 người nữ cùng sử dụng trái phép chất ma tuý với khách thì L đồng ý. Sau đó, có người nam giới (chưa rõ nhân thân) sử dụng tài khoản Zalo tên “Sửa xe” gọi cho L để mua ma tuý và tìm 01 người nữ cùng sử dụng ma tuý tại nhà nghỉ L4 thuộc khu phố E, phường D, L đồng ý, L và người nam giới kia thoả thuận, thống nhất tiền mua ma tuý là 4.000.000 đồng và tiền trả cho 01 người nữ cùng sử dụng ma tuý là 2.000.000 đồng, tổng cộng là 6.000.000 đồng. Sau khi đã thống nhất số tiền, L dùng ứng dụng Z gọi cho tài khoản Z có tên “Pp-L3” cho người nam giới tên L3 (chưa rõ nhân thân) để hỏi mua 01 bịch ma tuý loại Ketamine, 04 viên thuốc lắc với giá 2.500.000 đồng và hẹn giao tại khu vực gần phòng nghỉ của L. Nhận ma tuý xong, L dùng ứng dụng Zalo nhắn tin kêu Lê Thị Ngọc T đến phòng nghỉ của L để nhận số ma tuý vừa mua và mang đến nhà nghỉ L4 tại khu phố E, phường D để sử dụng cùng với khách, L cho T biết số tiền bán ma tuý là 4.000.000 đồng, còn tiền sử dụng ma tuý chung với khách là 2.000.000 đồng, T đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, T đến trước nhà nghỉ L4 thì bị Công an thành phố P kiểm tra, T đã đầu thú, giao nộp 01 bịch ma tuý loại Ketamine và 04 viên thuốc lắc. Ngày 25/6/2024, L đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P đầu thú. Ngày 03/7/2024, Đinh Phú L và Lê Thị Ngọc T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • 01 bịch nylon màu đen, có rãnh gài viền màu đen kích thước 05cm x 07cm, bên trong có chứa: 01 bịch nylon màu trắng có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 03cm x 03cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất và 04 viên nén màu xanh, không rõ hình dạng (đã được niêm phong);
  • 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh đen, IMEI 1 860672065613296, IMEI 2 860672065613288, bị bể mặt lưng sau (đã qua sử dụng).
  • 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 12 Pro Max màu đen, IMEI 1 350002269843654, IMEI 2 350002269786168 (đã qua sử dụng).

* Tại Kết luận giám định số 645/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K kết luận:

  • Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon màu trắng kích thước 03cm x 03 cm, có rãnh gài viền màu đỏ là ma tuý loại Ketamine, khối lượng là 1,2582 gam.
  • 04 viên nén màu xanh, không rõ hình dạng là ma tuý, loại MDMA, khối lượng 1,6201 gam.

MDMA là chất ma tuý nằm trong danh mục IB, STT 11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Ketamine là chất ma tuý nằm trong danh mục III, STT 50, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Bản cáo trạng số: 177/CT-VKSPQ ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Đinh Phú L và Lê Thị Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên toà: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Đinh Phú L và Lê Thị Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Phú L mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ 680/2024. Bên trong phong bì bao gồm 02 (hai) bịch nylon đựng mẫu và:

  • + Các hạt tinh thể rắn, nàu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,1766 gam.
  • + Chất bột màu xanh (được nghiền mịn từ 04 (bốn) viên nén màu xanh) còn lại sau giám định có khối lượng là 1,5603 gam.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh đen, IMEI 1 860672065613296, IMEI 2 860672065613288, bị bể mặt lưng sau (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 12 Pro Max màu đen, IMEI 1 350002269843654, IMEI 2 350002269786168 (đã qua sử dụng).

Đối với người nam giới tên L3 đã bán ma tuý cho bị cáo Đinh Phú L và người phụ nữ tên M1, người sử dụng tài khoản Zalo tên “Sửa xe” đã liên lạc mua ma tuý, tìm người sử dụng trái phép chất ma tuý từ bị cáo L, hiện chưa xác định được nhân thân của những người này nên chưa thể làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã ra Quyết định tách hành vi của những người này tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

* Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì đối với kết luận giám định và bản cáo trạng của Viện kiểm sát, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai nhận tại cơ quan điều tra, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, đã có đủ căn cứ xác định:

Vào khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 24/6/2024, tại phòng số A, nhà nghỉ T1 thuộc khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Đinh Phú L đưa cho Lê Thị Ngọc T 01 bịch ma tuý loại Ketamine có khối lượng 1,2582 gam và 04 viên ma tuý MDMA có khối lượng 1,6201 gam để T mang đến nhà nghỉ L4 tại khu phố E, phường D, thành phố P giao cho người nam giới (chưa rõ nhân thân) có tài khoản Zalo tên “Sửa xe”, L cho T biết số tiền bán ma tuý là 4.000.000 đồng, còn tiền cho T sử dụng ma tuý chung với khách là 2.000.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, T mang ma tuý đến trước nhà nghỉ L4 thì bị Công an thành phố P kiểm tra, T đã đầu thú, giao nộp toàn bộ số ma tuý. Ngày 25/6/2024, L ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

(MDMA là chất ma tuý nằm trong danh mục IB, STT 11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Ketamine là chất ma tuý nằm trong danh mục III, STT 50, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.)

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Đinh Phú L và Lê Thị Ngọc T phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, thế nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, đó là cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong đó, xét vai trò của bị cáo Đinh Phú L là nguy hiểm hơn bị cáo Lê Thị ngọc T, do bị cáo với vai trò chủ mưu, chủ động tìm nguồn mua ma túy để bán lại cho người khác, bị cáo là người đứng ra giao dịch, liên hệ với người bán và người mua ma túy với bị cáo, sau đó bị cáo phân công cho Lê Thị Ngọc T trực tiếp đi giao ma túy cho người mua và sử dụng ma túy chung với khách. Còn bị cáo T với vai trò đồng phạm trực tiếp thực hiện việc nhận ma túy từ L để đi giao cho người mua và còn được phân công sử dụng ma túy chung với người khác, nên xét vai trò, tính chất mức độ hành vi của bị cáo T là nhẹ hơn bị cáo L. Do đó, bị cáo L sẽ chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo T là tương xứng với vai trò, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi bị phát hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo (Đinh Phú L và Lê Thị Ngọc T) đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Cần tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ 680/2024. Bên trong phong bì bao gồm 02 (hai) bịch nylon đựng mẫu và:

  • + Các hạt tinh thể rắn, nàu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,1766 gam.
  • + Chất bột màu xanh (được nghiền mịn từ 04 (bốn) viên nén màu xanh) còn lại sau giám định có khối lượng là 1,5603 gam.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh đen, IMEI 1 860672065613296, IMEI 2 860672065613288, bị bể mặt lưng sau (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 12 Pro Max màu đen, IMEI 1 350002269843654, IMEI 2 350002269786168 (đã qua sử dụng).

[6]. Đối với người nam giới tên L3 đã bán ma tuý cho bị cáo Đinh Phú L và người phụ nữ tên M1, người sử dụng tài khoản Zalo tên “Sửa xe” đã liên lạc mua ma tuý, tìm người sử dụng trái phép chất ma tuý từ bị cáo L, hiện chưa xác định được nhân thân của những người này nên chưa thể làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã ra Quyết định tách hành vi của những người này tiếp tục điều tra, làm rõ, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

[7]. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc:

Về tội danh, điều luật áp dụng và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Riêng mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có phần nghiêm khắc, chưa thật sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng. Do từ đầu các bị cáo tự nguyện đầu thú, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc điều tra, truy tố giải quyết vụ án và tại phiên tòa các bị cáo đã thể hiện ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình. Do đó, Hội đồng xét xử cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo nhưng nhẹ hơn mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật của Nhà nước để các bị cáo sớm chấp hành xong hình phạt, trở về đoàn tụ với gia đình và trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Trách nhiệm hình sự:

    - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đinh Phú LLê Thị Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

    - Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Đinh Phú L 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/06/2024.

    - Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

    - Xử phạt: Lê Thị Ngọc T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/06/2024.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    - Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ 680/2024. Bên trong phong bì bao gồm 02 (hai) bịch nylon đựng mẫu và:

    • + Các hạt tinh thể rắn, nàu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,1766 gam.
    • + Chất bột màu xanh (được nghiền mịn từ 04 (bốn) viên nén màu xanh) còn lại sau giám định có khối lượng là 1,5603 gam.

    - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen, IMEI 1 860672065613296, IMEI 2 860672065613288, bị bể mặt lưng sau (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu IPhone 12 Pro Max màu đen, IMEI 1 350002269843654, IMEI 2 350002269786168 (đã qua sử dụng).

    (Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo quyết định chuyển giao vật chứng số 166/QĐ-VKSPQ-HS ngày 18/10/2024 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2024)

  3. Về án phí:

    Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Án xử công khai, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND thành phố Phú Quốc;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. Phú Quốc;
  • - Đội tổng hợp CA TP. Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS TP. Phú Quốc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 181/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Phú L và đồng bọn phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger