Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/DS-ST

Ngày: 28/9/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Ông Sơn Khem

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 183/2024/TLST-DS, ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại Cổ phần K;

Địa chỉ trụ sở chính: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 2032/QĐ-NHKL-2024 ngày 24/7/2024) (ông T có mặt).

Địa chỉ: Số D, N, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Đào Công Đ; sinh năm: 1987 và bà Lê Thị Yến N; sinh năm: 1992 (ông Đ có mặt, bà N vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Bùi Thị Mỹ L; sinh năm: 1958 (bà L vắng mặt)
  2. Ông Đào Công P; sinh năm: 1954 (ông P vắng mặt)

Cùng đại chỉ: Ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20/5/2024 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Trần Ngọc T trình bày:

Ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N có vay của Ngân hàng thương mại Cổ phần K – Chi nhánh S- Phòng G số tiền là 400.000.000 đồng, cụ thể như sau:

  1. Hợp đồng tín dụng số 314/20/HĐTD/2101-7768 ngày 17/8/2020:
    • Số tiền vay: 400.000.000 đồng.
    • Mục đích vay: sửa chữa nhà ở.
    • Thời hạn vay: 10 năm, ngày đến hạn 17/8/2030.
    • Lãi suất vay: 12%/năm được cố định trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Kể từ tháng thứ 4 trở đi, lãi suất cho vay thay đổi 03 tháng 01 lần và được tính bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng lãnh cuối kỳ của Ngân hàng K tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng thêm 4,3%/năm. Lãi suất ngay sau khi điều chỉnh không được thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu hiện hành tại đơn vị (cùng loại hình và phương thức vay).
    • Lãi suất quá hạn: 150% (gấp 1,5 lần) lãi suất vay ngay thời điểm nợ quá hạn.
    • Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm.
    • Hình thứ thanh toán: Gốc + lãi trả 06 tháng/lần.
  2. Tài sản thế chấp dùng để bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng nêu trên được ký kết tại hợp đồng thế chấp số 314/20/HĐTC-BĐS/2101-7768 ngày 17/8/2020 cụ thể: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0099QSDD/5807308 do UBND huyện V, nay là thị xã V cấp ngày 10/61998, tặng cho ông Đ1 công Điện ngày 14/8/2020; thửa đất số 247, 496, 497, 498, tờ bản đồ số 01, diện tích 16.466m², mục đích sử dụng đất: Đất LnK+1L+T; thời hạn sử dụng đất: đất LnK: 50 năm, đất 1L đến ngày 15/10/2063, đất T: lâu dài; tọa lạc ấp năm C, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

Kể từ vay đến nay ông Đào Công Đ, Lê Thị Yến N chưa thanh toán đủ gốc, lãi nên vi phạm hợp đồng. Tính đến ngày 28/9/2024 ông Đ, bà N còn nợ Ngân hàng K cụ thể như sau:

  • Vốn gốc: 344.000.000 đồng;
  • Tiền lãi trong hạn: 105.592.242 đồng.
  • Tiền phạt chậm trả lãi: 9.140.004 đồng.
  • Tiền lãi quá hạn: 11.984.441 đồng.

Tổng vốn và lãi: 470.716.687 đồng.

Nay Ngân hàng thương mại Cổ phần K yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K toàn bộ số tiền 470.716.687 đồng (trong đó: Nợ gốc 344.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 105.592.242 đồng, phạt chậm trả lãi: 9.140.004 đồng, lãi quá hạn: 11.984.441 đồng). Đồng thời, yêu cầu ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số 314/20/HĐTD/2101-7768 ngày 17/8/2020, kể từ ngày 29/9/2024 cho đến khi ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N trả hết nợ gốc cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K.

Trường hợp ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Đào Công Đ trình bày: Ông thừa nhận có vay Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh đúng theo yêu cầu khởi kiện của ngân hàng và đúng theo hợp đồng tín dụng số 314/20/HĐTD/2101-7768 ngày 17/8/2020 và thống nhất thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo hợp đồng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dứt điểm số tiền còn nợ trong thời hạn 03 tháng.

Đối với bị đơn bà Lê Thị Yến N: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông Ngân hàng thương mại Cổ phần K nhưng bà N không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho bà N và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn, bị đơn Đào Công Đ đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn bà Lê Thị Yến N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Công P và bà Bùi Thị Mỹ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N cùng liên đới trả nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 470.716.687 đồng (trong đó: Nợ gốc 344.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 105.592.242 đồng, phạt chậm trả lãi: 9.140.004 đồng, lãi quá hạn: 11.984.441 đồng) và ông Đ, bà N phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 29/9/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí thẩm định đo đạc theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N có địa chỉ ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Bị đơn bà Lê Thị Yến N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N tại Hợp đồng tín dụng số 314/20/HĐTD/2101-7768 ngày 17/8/2020 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông Đ, bà N còn nợ lại tiền nợ gốc là 344.000.000 đồng và tiền lãi chưa thanh toán đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N thanh toán nợ nhưng ông Đ, bà N không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên Ngân hàng thương mại Cổ phần K yêu cầu bị đơn ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông Đ, bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử 28/9/2024 số tiền là 470.716.687 đồng (trong đó: Nợ gốc 344.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 105.592.242 đồng, phạt chậm trả lãi: 9.140.004 đồng, lãi quá hạn: 11.984.441 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 29/9/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 314/20/HĐTD/2101-7768 ngày 17/8/2020 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K, ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 314/20/HĐTC-BĐS/2101-7768 ngày 17/8/2020, dùng tài sản là thửa số 247, 496, 497, 498, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã V cập nhật thay đổi cấp cho ông Đào Công Đ ngày 14/8/2020 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ đối với các thửa đất thế chấp nêu trên thì: Tại thửa 498, tờ bản đồ số 01 hiện có tồn tại 01 căn nhà cấp 4 của ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N có kết cấu: Mái tôn T1, vách tường, nền lót gạch men, chiều dài 22,5m, chiều ngang nhà trước 4,9m, chiều ngang nhà sau 7,5m phần còn lại là đất trống; thửa 247, 496, 497 là đất trống. Toàn bộ 04 thửa đất nêu trên do ông Đào Công Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và vợ chồng ông Đ, bà N đang quản lý, sử dụng. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Công P và bà Bùi Thị Mỹ L là người ở chung trong căn nhà của ông Đ, bà N cũng không có phản đối cũng như không có ý kiến gì về việc ông Đ, bà N thế chấp quyền sử dụng đất. Mặt khác, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 314/20/HĐTC-BĐS/2101-7768 ngày 17/8/2020, được ký kết giữa ngân hàng với bị đơn ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.

[5] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N liên đới chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 325, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N.
  2. Buộc ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 470.716.687 đồng (trong đó: Nợ gốc 344.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 105.592.242 đồng, phạt chậm trả lãi: 9.140.004 đồng, lãi quá hạn: 11.984.441 đồng). Ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 29/9/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 314/20/HĐTD/2101-7768 ngày 17/8/2020 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

  3. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời, ông Đào Công P, bà Bùi Thị Mỹ L có nghĩa vụ cùng ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N bàn giao tài sản thế chấp, cụ thể: Thửa đất số 498 (mục đích sử dụng: T), diện tích 300m² và tài sản trên đất là 01 căn nhà cấp 4 của ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N có kết cấu: Mái tôn T1, vách tường, nền lót gạch men, chiều dài 22,5m, chiều ngang nhà trước 4,9m, chiều ngang nhà sau 7,5m; thửa đất số 247 (mục đích sử dụng: LnK), diện tích 3.266m²; thửa đất số 496 (mục đích sử dụng: 1L), diện tích 1.000m² và thửa 497 (mục đích sử dụng: 1L), diện tích 11.800m², tất cả các thửa đất nêu trên đều thuộc tờ bản đồ số 01 tọa lạc ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 163953 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã V cập nhật thay đổi cấp cho ông Đào Công Đ ngày 14/8/2020 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 314/20/HĐTC-BĐS/2101-7768 ngày 17/8/2020.
  4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hoặc tất toán toàn bộ khoản vay thì Ngân hàng thương mại Cổ phần K phải có trách nhiệm giải chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ tài sản.

  5. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • Bị đơn ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N liên đới chịu 22.828.667 đồng.
      • Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.072.000 đồng theo biên lai thu số 0004857 ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
    2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N liên đới chịu là 750.000 đồng. Do nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K đã đóng tạm ứng số tiền này nên ông Đào Công Đ và bà Lê Thị Yến N có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 750.000 đồng.
  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THATAND tinh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 181/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger