Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13 - 9 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Liên.
  2. Bà Nguyễn Thị Tạc

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án - Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 316/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/4/2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 134/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị S, sinh năm 1978 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Hẻm F H, TDP G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Ông Trần C, sinh năm 1971 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Hẻm F H, TDP G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn, bà Đặng Thị S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Trần C đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 18/01/1999. Sau khi kết hôn thì vợ chồng tôi sống ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau đó đến năm 2004 thì vợ chồng chuyển vào tỉnh Đắk Lắk sinh sống.

Vợ chồng chung sống đến năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chồng tôi ham mê cờ bạc không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu, đập phá đồ đạc trong gia đình. Nay tôi xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi và ông Trần C được ly hôn.

- Về con chung: Tôi và ông Trần C có 04 con chung:

  1. Trần Văn S1, sinh ngày 04/9/2007;
  2. Trần Văn S2, sinh ngày 04/9/2007;
  3. Trần Văn K, sinh ngày 16/02/2000;
  4. Trần Thị Thúy D, sinh ngày 20/8/2001;

Hiện nay các con chung là Trần Văn KTrần Thị Thúy D đã đủ 18 tuổi nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tôi có nguyện vọng xin được nuôi hai con là Trần Văn S1Trần Văn S2 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tôi đã tự thỏa thuận phân chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Trần C nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đặng Thị S.

Về quan hệ hôn nhân: bà Đặng Thị S được ly hôn với ông Trần C.

Về con chung:

Hiện nay các con chung là Trần Văn K, sinh ngày 16/02/2000 và Trần Thị Thúy D, sinh ngày 20/8/2001 đã đủ 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.

Giao cháu Trần Văn S1, sinh ngày 04/9/2007 và Trần Văn S2, sinh ngày 04/9/2007 cho bà Đặng Thị S chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành.

Ông Trần C có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Đặng Thị S yêu cầu ly hôn với ông Trần C, địa chỉ cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Trần C vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị S và ông Trần C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 18/01/1999 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Đặng Thị S và ông Trần C chung sống hạnh phúc với nhau được đến năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông C ham mê cờ bạc không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu, đập phá đồ đạc trong gia đình. Bà S xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Về mâu thuẫn trong quá trình chung sống giữa bà S, ông C thì đại diện tổ dân phố không nắm rõ, do khi làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn bà S không yêu cầu hòa giải cơ sở. Nay bà Đặng Thị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần C thì đề nghị xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.”

Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc bà Đặng Thị S xét thấy không còn tình cảm với ông Trần C, vợ chồng có mâu thuẫn kéo dài từ năm 2004, dẫn đến mâu thuẫn cuộc sống kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Đặng Thị S, cho bà Đặng Thị S được ly hôn với ông Trần C.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Đặng Thị S và ông Trần C có 04 con chung là Trần Văn S1, sinh ngày 04/9/2007; Trần Văn S2, sinh ngày 04/9/2007; Trần Văn K, sinh ngày 16/02/2000; Trần Thị Thúy D, sinh ngày 20/8/2001.

Đối với các con chung là Trần Văn K, sinh ngày 16/02/2000; Trần Thị Thúy D, sinh ngày 20/8/2001: Hiện nay đã đủ 18 tuổi nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với cháu Trần Văn S1, sinh ngày 04/9/2007; Trần Văn S2, sinh ngày 04/9/2007: Quá trình giải quyết vụ án bà S cũng có nguyện vọng được giao cháu S1 và cháu S2 cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng. Tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu S1 và cháu S2 cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Nên Hội đồng xét xử xét thấy việc bà S có nguyện vọng nuôi con là phù hợp với thực tế và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Trần Văn S1, sinh ngày 04/9/2007; Trần Văn S2, sinh ngày 04/9/2007 cho mẹ là bà Đặng Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đặng Thị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Đặng Thị S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật, bị đơn ông Trần C không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ: Điểm a Khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị S được ly hôn với ông Trần C.

2. Về con chung:

Hiện nay các con chung là Trần Văn K, sinh ngày 16/02/2000; Trần Thị Thúy D, sinh ngày 20/8/2001 đã đủ 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.

Giao cháu Trần Văn S1, sinh ngày 04/9/2007; Trần Văn S2, sinh ngày 04/9/2007 cho bà Đặng Thị S chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành.

Ông Trần C có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.

5. Về án phí: Bà Đặng Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2023/0009727 ngày 27 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. BMT;
  • - Chi Cục THADS Tp. BMT;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Hòa Phú;
  • - Lưu hồ sơ tại tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 181/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger