Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 181/2024/DS-ST

Ngày: 20-8-2024

“V/v tranh chấp Hợp đồng

đặt cọc”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Dũng Nhân;
  2. Ông Hoàng Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 292/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng đặt cọc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Tấn T, sinh năm 1949; nơi cư trú: Tổ D, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969 và bà Lê Diễm P, sinh năm 1972; cùng nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Cao Thị H, sinh năm 1960; nơi cư trú: Tổ D, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 23/5/2024 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn là ông Phan Tấn T trình bày:

Ông là chồng bà H. Ngày 09/6/2023, vợ chồng ông có đặt cọc số tiền 50.000.000 đồng để sang nhượng lại đất của vợ chồng ông T1, có làm giấy tay. Thửa đất ông sang nhượng có diện tích 0,6 ha, giá chuyển nhượng là 230.000.000 đồng, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Hai bên thỏa thuận đến tháng 9/2023 âm lịch sẽ trả số tiền còn lại là 180.000.000 đồng. Đến hẹn, ông cũng chuẩn bị tiền để trả và định làm nhà trên đất nhưng địa phương không cho phép làm nhà vì đất này là đất của rừng phòng hộ, không ai được chuyển nhượng, nếu làm nhà thì sẽ bị phạt nên ông không sang nhượng đất nữa và xin lại tiền cọc. Bà P có đề nghị ông đưa thêm 20.000.000 đồng để lo việc xin phép làm nhà nhưng ông bà không đồng ý. Trước khi thỏa thuận đặt cọc thì vợ chồng ông T1 nói đất này sẽ được cấp sổ đỏ trong tương lai nên ông bà mới đồng ý chuyển nhượng. Ông bà chuyển nhượng với mục đích làm nhà để ở nhưng do không được làm nhà, ông có hỏi thì cũng được biết đất này không làm sổ đỏ được nên ông không nhận chuyển nhượng nữa. Ông có yêu cầu chính quyền địa phương hòa giải để xin lại tiền cọc, tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh hòa giải thì bà P chỉ đồng ý trả lại 25.000.000 đồng tiền cọc nhưng hẹn 01 năm sau mới trả nên ông không đồng ý. Khi đến xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh hòa giải thì bà P không đồng ý trả tiền nữa và thách thức ông đi kiện nên ông mới khởi kiện. Trong vụ việc này ông không có lỗi gì, lỗi hoàn toàn thuộc về bên ông T1 vì nói với ông đất này làm nhà ở được và được cấp sổ đỏ nhưng những việc này đều không đúng sự thật.

Nay ông yêu cầu vợ chồng ông T1 trả lại cho ông số tiền đã đặt cọc là 50.000.000 đồng. Ngoài ra, ông không yêu cầu gì khác.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Ông là chồng bà P. Ngày 09/6/2023, vợ chồng ông có nhận cọc với số tiền 50.000.000 đồng để sang nhượng lại đất cho vợ chồng ông T, có làm giấy tay. Thửa đất ông định sang nhượng có diện tích 0,6 ha, giá chuyển nhượng là 230.000.000 đồng, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Hai bên thỏa thuận đến tháng 9/2023 âm lịch sẽ trả số tiền còn lại là 180.000.000 đồng. Đến hẹn thì vợ chồng ông T không đồng ý sang nhượng nữa, lúc đầu thì nói không đủ tiền trả cho ông, sau đó thì nói đất này là đất rừng nên không sang nhượng nữa và đòi lại tiền cọc. Nguồn gốc đất này do ông sang nhượng lại từ người khác từ năm 2000, khi đó đất có tứ cận: Đông giáp đất ông 6 Láng, Tây giáp đất ông 6 Chẳng, Nam giáp đất ông D, Bắc giáp đất ông Tư H1. Khi ông sang nhượng lại thì đất không có sổ đỏ nên chỉ làm giấy tay, cho đến nay ông cũng chưa được cấp sổ đỏ vì đất này là đất rừng sản xuất. Vừa qua, ông có làm thủ tục đăng ký xin cấp sổ đỏ nhưng không biết đến khi nào mới được cấp. Ông không ký hợp đồng gì với Ban Q. Khi thỏa thuận sang nhượng cho vợ chồng ông T thì vợ chồng ông T biết đất không có sổ đỏ vì trước khi nhận cọc ông có nói rõ đất này chỉ sang nhượng bằng giấy tay, không có sổ đỏ. Phía ông T không có ý kiến gì và có đi coi đất rồi mới làm giấy đặt cọc. Ông không có nói với vợ chồng ông T là đất này sẽ được cấp sổ đỏ trong tương lai và được làm nhà ở, ông nói rõ đất này là đất ruộng, được thì sang nhượng, không được thì thôi. Ông bà cũng không đề nghị phía ông T đưa thêm 20.000.000 đồng để lo việc xin phép làm nhà. Ban đầu, khi hòa giải ở ấp T xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh ông đưa ra 02 phương án là nếu ông sang nhượng đất cho người khác được thì sẽ trả lại đủ 50.000.000 đồng, nếu không sang nhượng đất được thì hẹn 01 năm sau sẽ trả lại 25.000.000 đồng nhưng bà H không đồng ý. Khi ra xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh hòa giải thì bà H vẫn yêu cầu trả lại đủ tiền, phía ông thì chỉ đồng ý trả 25.000.000 đồng và hẹn cuối năm trả nên không hòa giải được. Trong vụ việc này ông không có lỗi gì, lỗi hoàn toàn thuộc về bên ông T vì không đồng ý sang nhượng đất nữa, không trả đủ tiền cho ông.

Nay ông không có tiền để trả lại cho ông T, khi nào sang nhượng được đất cho người khác thì ông mới trả đủ cho ông T số tiền 50.000.000 đồng. Ngoài ra, ông không yêu cầu gì khác.

Bị đơn là bà Lê Diễm P trình bày:

Bà hoàn toàn thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông T1. Ngoài ra, bà không bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Cao Thị H trình bày:

Bà hoàn toàn thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông T. Ngoài ra, bà không bổ sung gì thêm.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 328 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xử theo hướng:

  • + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Buộc ông T1, bà P cùng có nghĩa vụ trả lại cho ông T, bà H 50.000.000 đồng tiền cọc.
  • + Ông T1, bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về nội dung tranh chấp: Tại phiên tòa, ông Phan Tấn T yêu cầu ông Phan Văn T2, bà Lê Diễm P cùng có nghĩa vụ trả lại cho vợ chồng ông 50.000.000 đồng tiền cọc. Ông T2, bà P chỉ đồng ý trả lại 50.000.000 đồng tiền cọc cho vợ chồng ông T khi nào ông, bà sang nhượng lại được đất cho người khác. Xét yêu cầu của ông T và ý kiến của vợ chồng ông T2 thấy rằng:

[1.1] Căn cứ vào Hợp đồng đặt cọc đề ngày 09/6/2023 cùng lời thừa nhận của cả hai bên đương sự có đủ căn cứ xác định vợ chồng ông T, bà H có ký kết hợp đồng đặt cọc với vợ chồng ông T2, bà P để đảm bảo việc sang nhượng cho phần đất có diện tích 0,6 ha tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá 230.000.000 đồng, đã đặt cọc 50.000.000 đồng, hẹn đến hết tháng 9/2023 âm lịch sẽ trả số tiền 180.000.000 đồng còn lại, bên chuyển nhượng chưa giao đất cho bên nhận chuyển nhượng sử dụng, chưa thực hiện được việc chuyển nhượng đất theo quy định của pháp luật. Do đó, có đủ căn cứ xác định những sự việc nêu trên là có thật.

[1.2] Căn cứ vào lời thừa nhận của các bên có đủ căn cứ xác định hai bên ký kết Hợp đồng đặt cọc với nhau để đảm bảo cho việc chuyển nhượng phần đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì là đất rừng sản xuất, đất không được quyền chuyển nhượng theo quy định tại Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013, dẫn đến không thực hiện được việc chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì vậy, Hợp đồng đặt cọc hai bên đã ký kết ngày 09/6/2023 là vô hiệu ngay từ thời điểm ký kết theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật Dân sự, các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận, bên nào có lỗi, gây thiệt hại phải bồi thường. Trong trường hợp này cả hai bên đều có lỗi như nhau nhưng do không phát sinh thiệt hại nên không đặt ra giải quyết về việc bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa, ông T, bà H chỉ yêu cầu ông T2, bà P trả lại số tiền cọc đã giao, không yêu cầu gì khác là có căn cứ, cần chấp nhận. Ông T2, bà P chỉ đồng ý trả lại số tiền trên cho ông T, bà H sau khi đã sang nhượng lại đất này cho người khác là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[1.3] Từ những nhận định trên, cần buộc ông T2, bà P cùng có nghĩa vụ trả lại cho ông T, bà H 50.000.000 đồng tiền đã đặt cọc là phù hợp với quy định tại các Điều 123, 328 của Bộ luật Dân sự.

[2] Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với những nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc ông T2, bà P phải chịu 2.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 123, 328 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Tấn T đối với ông Nguyễn Văn T1, bà Lê Diễm P về việc tranh chấp Hợp đồng đặt cọc.

Buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Lê Diễm P cùng có nghĩa vụ trả lại cho ông Phan Tấn T, bà Cao Thị H 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng tiền cọc.

Kể từ ngày ông T, bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông T1, bà P không thi hành số tiền trên, thì hàng tháng ông T1, bà P còn phải trả cho ông T, bà H số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T1, bà Lê Diễm P phải chịu 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  3. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

Nguyễn Thành Chung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/DS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 181/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc Phan Tấn T - Nguyễn Văn T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger