Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 6 - 2024

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trí và bà Đào Thị Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 139/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 248/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1996;

    Địa chỉ: số E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

  2. Bị đơn: Anh Thái Thành M, sinh năm 1996

    Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Qua quá trình tìm hiểu và yêu thương nhau nên chị H và anh M tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 22/6/2020. Sau khi kết hôn thì chị H và anh M đi làm ăn và chung sống tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 01/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do trong quá trình chung sống, anh M cho rằng chị H tiêu xài hoan phí, không biết tiết kiệm. Ngoài ra, vì nhà chồng có nhiều người sinh sống, mỗi lần đi làm ăn xa về thì chị H và các thành viên trong gia đình bên chồng luôn xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống với nhau. Đến tháng 6/2023, mâu thuẫn trở nên gay gắt vì anh M không quan tâm đến ý kiến của chị H mà luôn cho bản thân anh M là đúng, luôn chửi chị H và bên vực gia đình bên gia đình chồng nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Ngoài ra, anh M thường xuyên không quan tâm đến vợ, con; những lúc xảy ra cãi vả, anh M luôn đập phá đồ đạc trong nhà và anh M đang có tình cảm với người phụ nữ khác. Chị H và gia đình hai bên cũng tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành do anh M không thay đổi bản thân, vẫn luôn cho rằng mình là đúng và không suy nghĩ đến ý kiến của chị H. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị H và anh M có 01 (một) con chung tên Thái Minh Q, sinh ngày 21/9/2021. Khi ly hôn, chị H đồng ý để anh M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; chị H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con chung.

Anh Thái Thành M vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Chị Nguyễn Thị Mỹ H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến khoảng tháng 01/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã do anh M sống gia trưởng; không quan quan tâm vợ, con; vợ chồng thường bất đồng quan điểm sống về vấn đề kinh tế, anh M cho rằng chị H tiêu xài hoan phí, không biết tiết kiệm; khi chị H và các thành viên trong gia đình anh M xảy ra mâu thuẫn thì anh M không quan tâm đến ý kiến của chị H và luôn bên vực gia đình anh M mà chửi mắn chị H. Mâu thuẫn vợ chồng trở nên gay gắt từ tháng 6/2023 nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị H và anh M; bản thân chị H và anh M cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, chị H yêu cầu được ly hôn với anh M; về con chung, chị H đồng ý để anh M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Thái Minh Q, sinh ngày 21/9/2021; chị H không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Thái Thành M vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ Huỳnh . Về quan hệ hôn nhân, chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với anh Thái Thành M. Anh Thái Thành M được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Thái Minh Q, sinh ngày 21/9/2021; chị Nguyễn Thị Mỹ H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Theo giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh của con chung, anh Thái Thành M có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 17/5/2024, anh Thái Thành M còn cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang nhưng thường vắng mặt tại địa phương do đi làm ăn xa nhưng không xác định được nơi anh M làm việc và thời gian trở về do anh Thái Thành M không có trình báo chính quyền địa phương. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Thái Thành M tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[1.2] Chị Nguyễn Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Thái Thành M là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Thái Thành M (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Đối với anh Thái Thành M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa, anh Thái Thành M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Thái Thành M.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Đối với quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Mỹ H cho rằng, chị H và anh M tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến tháng 01/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cự cãi do anh M sống gia trưởng, không quan quan tâm vợ, con; vợ chồng thường bất đồng quan điểm về vấn đề kinh tế do anh M cho rằng chị H tiêu xài hoan phí, không biết tiết kiệm; khi chị H và gia đình anh M xảy ra mâu thuẫn, anh M không quan tâm đến ý kiến của chị H và luôn bên vực gia đình anh M mà chửi mắn chị H. Mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng từ tháng 6/2023 nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị H và anh M; bản thân chị H và anh M không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu ly hôn với anh M.

Anh Thái Thành M đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ Huỳnh .

Xét thấy, chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Thái Thành M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Thái Thành M đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị H theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị H và anh M theo quy định của pháp luật nhưng anh M vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Thái Thành M không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh M nên lời trình bày của chị H về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị H và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị H yêu cầu ly hôn anh M phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.2] Đối với con chung:

Chị Nguyễn Thị Mỹ H xác định chị H và anh M có 01 con chung tên Thái Minh Q, sinh ngày 21/9/2021, hiện nay đang sống với anh M. Khi ly hôn, chị H đồng ý để anh M được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; chị H không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Thái Thành M vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị H và anh M ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị H, từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Thái Minh Q sinh sống với anh M cho đến nay, quá trình sinh sống với anh M, cháu Q vẫn được chăm sóc, phát triển tốt. Để ổn định cuộc sống cho cháu Q, giúp cháu Q phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị H đồng ý để anh M được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị H và anh M ly hôn phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Thái Thành M là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị H và anh M ly hôn nên chị Nguyễn Thị Mỹ H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, anh Thái Thành M vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[2.4] Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ Huỳnh .

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn anh Thái Thành M.

Giấy chứng nhận kết hôn số 121, ngày 26/10/2020 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Thái Thành M không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung:

Anh Thái Thành M được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Thái Minh Q, sinh ngày 21/9/2021. Hiện nay đang sống với anh Thái Thành M.

Chị Nguyễn Thị Mỹ H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Thái Thành M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Nguyễn Thị Mỹ H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0015131 ngày 01/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - Đương sự;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Phước Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 181/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Qua quá trình tìm hiểu và yêu thương nhau nên chị H và anh M tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 22/6/2020. Sau khi kết hôn thì chị H và anh M đi làm ăn và chung sống tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 01/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do trong quá trình chung sống, anh M cho rằng chị H tiêu xài hoan phí, không biết tiết kiệm. Ngoài ra, vì nhà chồng có nhiều người sinh sống, mỗi lần đi làm ăn xa về thì chị H và các thành viên trong gia đình bên chồng luôn xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống với nhau. Đến tháng 6/2023, mâu thuẫn trở nên gay gắt vì anh M không quan tâm đến ý kiến của chị H mà luôn cho bản thân anh M là đúng, luôn chửi chị H và bên vực gia đình bên gia đình chồng nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Ngoài ra, anh M thường xuyên không quan tâm đến vợ, con; những lúc xảy ra cãi vả, anh M luôn đập phá đồ đạc trong nhà và anh M đang có tình cảm với người phụ nữ khác. Chị H và gia đình hai bên cũng tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành do anh M không thay đổi bản thân, vẫn luôn cho rằng mình là đúng và không suy nghĩ đến ý kiến của chị H. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger