Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/DS-PT

Ngày: 19/4/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân

Ông Nguyễn Quốc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 83/2024/TLPT-DS, ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 156/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc V, sinh năm 1970; địa chỉ: Số D, hẻm E, khu phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  2. Người đại diện hợp pháp của bà V: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; địa chỉ: khu phố A, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

  3. Bị đơn: Ông Trần Huy B, sinh năm 1983, bà Nguyễn An X, sinh năm 1982; địa chỉ: Số H, hẻm D, đường Q, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, ông B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà X có mặt.
  4. Người bảo vệ hợp pháp của bà Nguyễn An X: Bà Lưu Ánh N – luật sư thành viên đoàn luật sư tỉnh T – chi nhánh Công ty L Tạ Nguyệt T1.

Người kháng cáo ông Trần Huy B, bà Nguyễn An X là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 25 tháng 7 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị Ngọc V và ông Nguyễn Văn T là người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:

Năm 2019 bà V có chuyển nhượng cho bà X, ông B diện tích đất 3,3 công giá 540.000.000 đồng, bà X trả cho bà V được số tiền 490.000.000 đồng, trả bằng tiền mặt trả nhiều lần, còn nợ lại 50.000.000 đồng không có làm giấy tờ. Tháng 3/2022 bà V chuyển nhượng tiếp cho bà X và ông B 01 phần đất 5 công, giá 1.600.000.000 đồng, bà X trả cho bà V được số tiền 1.200.000.000 đồng (chuyển khoản) còn nợ lại số tiền 400.000.000 đồng không làm giấy tờ, tổng cộng bà X nợ bà V số tiền 450.000.000 đồng. Đến tháng 5/2022 bà V chuyển nhượng tiếp cho bà X, ông B 01 phần đất 3,3 công giá 1.350.000.000 đồng, bà X trả cho bà V 1.400.000.000 đồng còn dư lại 100.000.000 đồng, khấu trừ vào số tiền bà X còn thiếu là 450.000.000 đồng, bà X ông B còn nợ lại bà V số tiền 350.000.000 đồng đến nay chưa trả. Nay bà V yêu cầu bà X, ông B trả cho số tiền 350.000.000 đồng và tiền lãi suất 01%/ tháng, tính từ ngày 01/6/2023 cho đến khi xét xử xong vụ án.

Bị đơn bà Nguyễn An X và ông Trần Huy B trình bày:

Ông bà thừa nhận ông bà có chuyển nhượng đất của bà V như bà V trình bày, lần mua đất 3,3 công năm 2019 giá 560.000.000 đồng, ông bà đã trả đủ cho bà V bằng tiền mặt, ông, bà và bà V biết ngoài ra không ai biết, lần mua đất tháng 3/2022 giá 1.600.000.000 đồng, ông bà trả tiền mặt 12.000.000 đồng (có tin nhắn), tiền bà V nợ ông bà tổng cộng 88.000.000 đồng, ông bà trả 100.000.000 đồng (có tin nhắn), bà X chuyển khoản 1.200.000.000 đồng, phần này ông bà nợ lại bà V 300.000.000 đồng. Tháng 5/2022 bà X chuyển nhượng tiếp của bà V 01 phần đất 3 công 3 giá 1.300.000.000 đồng (có tin nhắn tính tiền), ngày 4/4/2022 bà X chuyển khoản cho bà V số tiền 50.000.000 đồng đặt cọc có tin nhắn. Ngày 10/5/2022 bà X nhờ người quen chuyển cho bà V số tiền 350.000.000 đồng cùng ngày em bà X chuyển cho bà V số tiền 50.000.000 đồng, tổng cộng là 450.000.000 đồng. Ngày 17/6/2022 chuyển khoản cho bà V tại Ngân hàng B1 số tiền 950.000.000 đồng, phần này bà X chuyển dư cho bà V 100.000.000 đồng trừ vào số tiền 300.000.000 đồng trước đó, nên hiện tại còn nợ lại bà V số tiền 200.000.000 đồng, ông bà đồng ý trả cho bà V số tiền 200.000.000 đồng. Ông bà bắt đầu đóng tiền lãi cho bà V từ tháng 6/2022 đến tháng 5/2023 mỗi tháng 5.000.000 đồng.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc V đối với bà Nguyễn An X và ông Trần Huy B.
  2. Buộc bà Nguyễn An X và ông Trần Huy B có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Ngọc V số tiền 308.301.497đồng (ba trăm lẻ tám triệu, ba trăm lẻ một nghìn, bốn trăm chín mươi bảy đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc V số tiền 10.281.836 đồng (mười triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/02/2024 bà Nguyễn An X kháng cáo, ngày 27/02/2024 ông Trần Huy B kháng cáo, không đồng ý bản án sơ thẩm, chỉ đồng ý trả cho bà V số tiền 200.000.000 đồng, không đồng ý trả số tiền 308.301.497 đồng.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Bà X và ông B vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà X trình bày: Giữa bà V với vợ chồng ông B, bà X là sui gia với nhau, có chuyển nhượng đất cho nhau nhiều lần, do tin tưởng nên không làm giấy tờ giao nhận tiền, nay vợ chồng ông B, bà X đồng ý trả cho bà V số tiền 258.301.497 đồng.

Người đại diện hợp pháp của bà V đồng ý để vợ chồng ông B, bà X trả cho bà V số tiền 258.301.497 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Huy B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông B là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án như sau:
  3. Ông Trần Huy B và bà Nguyễn An X có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Ngọc V số tiền 258.301.497 đồng (hai trăm năm mươi tám triệu ba trăm lẻ một nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Huy B và bà Nguyễn An X phải chịu 12.915.000 đồng (mười hai triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng).
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Huy B và bà Nguyễn An X phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

  6. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và sửa bản án sơ thẩm.
  7. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ sửa bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
  2. - Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

  3. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
  4. Bà Nguyễn An X và ông Trần Huy B có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Ngọc V số tiền 258.301.497 đồng (hai trăm năm mươi tám triệu ba trăm lẻ một nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc V số tiền 10.281.836 đồng (mười triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng).

  5. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn An X và ông Trần Huy B phải chịu 12.915.000 đồng (mười hai triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng).
  6. Bà Lê Thị Ngọc V phải chịu 514.091 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 8.750.000 đồng (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002379 ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, hoàn trả lại cho bà V số tiền 8.235.909 đồng (tám triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm lẻ chín đồng).

  7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn An X phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu số: 0002399, ngày 20/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận bà X đã nộp xong.
  8. Ông Trần Huy B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu số: 0002442, ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận ông B đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV.TAT;
  • - TAND TP Tây Ninh;
  • - CCTHADS TP Tây Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/DS-PT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 181/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger