|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 181/2024/HS-ST Ngày 16-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Lý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Dung
Ông Vũ Văn Thi
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thuỳ Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 42/2024/HSST-QĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024, Thông báo thay đổi lịch phiên toà số 55/TB-TA ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn L, sinh năm 1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn I, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị T; có vợ là Chu Thị Thu T1 và 03 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/02/2024; có mặt.
- Bị hại: Chị Ngô Thị N, sinh năm 2002 (đã chết); nơi cư trú cuối cùng: Thôn D H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Ông Ngô Văn C1, sinh năm 1977 và bà Đồng Thị D, sinh năm 1978; cùng địa chỉ: Thôn D, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; là bố mẹ đẻ của bị hại. Ông C1 có mặt, bà D vắng mặt.
- + Anh JUNG JINHO sinh năm 1986, quốc tịch Hàn Quốc là chồng của chị Ngô Thị N.
Người đại diện theo ủy quyền là ông Ngô Văn C1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn D, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn L có giấy phép lái xe hạng C. Ngày 18/12/2023, L điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 15H-003.56 chở cát cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 từ bãi vật liệu xây dựng khu vực chân cầu K, xã A, huyện A đến công trình làm đường nông thôn mới tại xã Đ, huyện A. Khoảng hơn 13 giờ, L điều khiển xe ô tô trên Quốc lộ E, khi đi qua Trạm thu phí số 2, phía bên phải chiều đường có biển cảnh báo nguy hiểm đường hẹp về hai bên, L không giảm tốc độ xe, chạy khoảng 30km/h. Xe ô tô đi qua vị trí cần barie làn soát vé số 5, L quan sát bên phải thấy tại làn soát vé số 7 có 01 xe ô tô kéo rơmooc đi cùng chiều với tốc độ chậm. Luân vượt qua đầu xe ô tô kéo rơmooc, bật đèn tín hiệu cho xe chuyển hướng sang phải, rẽ vào thôn T, xã A, huyện A. Do không quan sát, không giảm tốc độ nên khi phần đầu xe ô tô của L đi vào làn đường xe máy, xe thô sơ chiều đường H - Hà Nội thì cạnh ngoài phía dưới góc bên phải (bên phụ) trước xe ô tô va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 15C1-483.54 do chị Ngô Thị N điều khiển đi cùng chiều. Chị N ngã ra đường, xe ô tô biển kiểm soát 15H-003.56 do L điều khiển chèn lên người chị N. Hậu quả chị Ngô Thị N chết tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng.
Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại nút giao giữa Quốc lộ E, chiều đường H đi Hà Nội, đoạn Km82+700 và đường đi vào thôn T, xã A. Quốc lộ E mặt đường trải nhựa áp phan nhẵn phẳng, có hai chiều đường riêng biệt Hà Nội đi Hải Phòng và ngược lại, được phân định với nhau bằng dải phân cách ở giữa. Lấy mép đường bên phải chiều đường H đi Hà Nội của Quốc lộ E đoạn từ văn phòng Công ty P về phía Hà Nội làm mép đường chuẩn. Lấy đầu lối mở vào thôn T làm điểm mốc. Đoạn đường xảy ra tai nạn cách Trạm thu phí số 2 là 50 mét về phía Hà Nội. Chiều đường H đi Hà Nội, mặt đường rộng 19,5 mét, chia thành 4 làn đường tương ứng với các làn thu phí của Trạm thu phí số 2. Bên phải chiều đường H đi Hà Nội có lối mở rộng 8,45 mét vào thôn T. Mặt đường hướng Hải Phòng đi Hà Nội hẹp về phía giữa đường 1,2 mét so với đoạn đường từ Trạm thu phí số B đến lối rẽ. Tại lề đường bên phải chiều đường H đi Hà Nội có biển báo nguy hiểm đường hẹp về hai bên, cách lối rẽ 29,2 mét đo về phía Hà Nội. Dấu vết trượt xước ký hiệu “1” dài 11,32 mét, điểm rộng nhất 0,45 mét không liên tục trên mặt đường chiều Hải Phòng đi Hà Nội và đoạn đầu đường vào thôn T. Điểm đầu dấu vết cách mép đường chuẩn là 3,5 mét, điểm cuối dấu vết tại điểm tiếp xúc giữa ốp bảo vệ ống xả xe mô tô biển số 15C1-483.54 với mặt đường và cách mép đường chuẩn là 4,48 mét. Xe mô tô biển kiểm soát 15C1-483.54, ký hiệu “2”, đổ nghiêng sang phải tại mặt đường, đầu xe hướng về phía lối rẽ vào thôn T, đuôi xe hướng phía Quốc lộ E. Dấu vết trượt, bám dính tạp chất dạng sợi vải, tổ chức cơ thể người, kích thước 3,07 x 0,32 mét, liên tục trên mặt đường. Điểm đầu dấu vết cách mép đường chuẩn là 2,5 mét, điểm cuối dấu vết tại điểm tiếp xúc giữa đầu nạn nhân Ngô Thị N với mặt đường và cách mép đường chuẩn là 5,25 mét. Xe ô tô biển kiểm soát 15H-003.56, ký hiệu “4”, đỗ tại đầu đường hướng vào lối rẽ thôn T, sau xe hướng về phía Quốc lộ E. Trục trước bên trái xe cách mép đường chuẩn 3,95 mét đo về phía Quốc lộ E, trục sau bên trái xe cách mép đường chuẩn 0,2 mét đo về phía lối rẽ. Nạn nhân Ngô Thị N ký hiệu “5” chết tại chỗ tại mặt trong tư thế nằm sấp, đầu nạn nhân nằm phía dưới gầm cabin xe ô tô ký hiệu “4”, ngay trước lốp trước bên phải xe ô tô. Tại phần đầu nạn nhân có đám dấu vết máu kích thước trong diện 1,2x0,65 mét.
Khám nghiệm tử thi xác định: Đầu mặt biến dạng, xẹp. Nửa mặt phải xây xước mài trượt da, vành tai phải dập nát, vùng trán phải dập rách da để lộ xương hộp sọ và khối xương hàm mặt bị dập vỡ phức tạp, thoát tổ chức não ra ngoài. Dập gãy xương ức và một số xương sườn hai bên, dập gãy toàn bộ các xương ngón tay bên trái và bên phải.
Kết luận giám định tử thi số 129/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận nạn nhân Ngô Thị N bị chết vì bị sốc do đa chấn thương.
Khám các phương tiện: Xe ô tô biển kiểm soát 15H-003.56 tại góc cản trước bên phải phía dưới có đám dấu vết trượt xước, điểm thấp nhất cách mặt đất 60cm. Tại góc ngoài cạnh lên xuống cabin bên phải và giá đỡ liền kề phía dưới có đám dấu vết trượt xước bám tạp chất màu đen dạng sơn, điểm thấp nhất cách mặt đất 55,3cm. Mặt dưới ống giá đỡ bậc lên xuống cabin bên phải có dấu vết trượt xước, mặt dưới giá đỡ két nước có đám dấu vết trượt xước. Tại khe vân lốp trước bên phải có đám các dấu vết bám dính tạp chất màu nâu đỏ. Xe mô tô biển kiểm soát 15C1-483.54 ốp nhựa đầu xe bên phải đoạn trước tay phanh có dấu vết nứt mài xước mất sơn, đầu tay phanh bên phải bị mài vẹt, cánh yếm phải có dấu vết mài xước mất sơn. Ốp sườn xe bên phải có đám dấu vết trượt xước mất sơn, trong đó có đám dấu vết dạng in hằn gồm nhiều đường song song. Cạnh ngoài cánh yếm bên trái có đám mài xước mất sơn, gương chiếu hậu bên trái bị xô lệch. Ốp sườn xe bên trái có dấu vết bẹp, bề mặt có đám dấu vết mất sơn, cạnh dưới ốp này bung bật mối gắn. Đèn chiếu hậu bên trái bị gãy mối gắn, cạnh trái biển kiểm soát bị cong, bề mặt bám dính dấu vết màu nâu đen.
Kết luận giám định số 299 ngày 21/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Dấu vết trượt xước mất sơn (màu xanh), bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau ở cạnh ngoài phía dưới góc bên phải (bên phụ) ốp kim loại cản trước xe ô tô mang biển kiểm soát 15H - 003.56 phù hợp với dấu vết bẹp lõm, vỡ nhựa, bề mặt trượt xước mất sơn (màu đen), bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau ở mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên trái trên xe mô tô mang biển kiểm soát 15C1 – 483.54.
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện A, kết luận: Chi phí khắc phục tổn thất, sửa chữa xe mô tô biển kiểm soát 15C1 – 483-54 là 1.518.000 đồng.
Cáo trạng số 128/CT-VKSAD ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương đã truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn L mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng. Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật. Về dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại Ngô Thị N kết hôn với anh JUNG JINHO quốc tịch Hàn Quốc vào ngày 13/10/2023. Anh JUNG JINHO đã có giấy ủy quyền cho ông Ngô Văn C1 tham gia tố tụng và không có yêu cầu đề nghị gì. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám các phương tiện, các kết luận giám định, người có quyền lợi liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng hơn 13 giờ ngày 18/12/2023, Bùi Văn L (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15H - 003.56 đi trên Quốc lộ E theo hướng Hải Phòng đi Hà Nội. Khi đến Km 82+700 thuộc thôn T, xã A, huyện A, L điều khiển xe rẽ phải vào thôn T đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 15C1 - 483.54 do chị Ngô Thị N điều khiển đang đi thẳng. Hậu quả chị N chết tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng. Bùi Văn L điều khiển xe ô tô đi đến nơi đường bộ giao nhau cùng mức có biển cảnh báo nguy hiểm đã chuyển hướng, chuyển làn không đảm bảo an toàn. Hậu quả làm 01 người chết. Việc điều khiển xe ô tô của L đã vi phạm khoản 1 Điều 13, Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.
Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Bùi Văn L đã phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ và gây thiệt hại tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại xảy ra, đại diện gia đình bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, gia đình bị cáo có thân nhân tham gia kháng chiến được thưởng nhiều huân huy chương, là liệt sĩ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về phần hình phạt:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị cáo là người lao động, điều khiển phương tiện tham gia giao thông gây hậu quả chết người với lỗi không mong muốn. Sau khi hậu quả xảy ra, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, đại diện gia đình bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, vì vậy áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là có cơ sở.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nhưng xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Bùi Văn L 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] cấp cho Bùi Văn L.
[7]. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị cáo Bùi Văn L đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 300.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án này.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Bùi Văn L.
Giao bị cáo Bùi Văn L cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo qui định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo qui định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sĩ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Bùi Văn L 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] cấp cho Bùi Văn L.
Đặc điểm chi tiết của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hồng Lý |
Bản án số 181/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 181/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bui Van Luan vi pham giao thong
