Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/DS-ST

Ngày: 12/8/2024;

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quản Văn Tiến

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lương;

Ông Nguyễn Văn Thư;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa Hà Nội tham gia phiên Tòa: Bà Đỗ Diệu Linh- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132 ngày 18 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 148 ngày 16 tháng 7 năm 2024; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Á (viết tắt A); Trụ sở: D N, phường E, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: ông Đỗ Minh T - Tổng giám đốc; Người được ủy quyền lại: bà Vũ Ly L; Địa chỉ liên hệ: Số A P, phường P, quận H, Hà Nội. Bà L có mặt.

Bị đơn:

  • Ông Lê Xuân T1, sinh năm: 1986;
  • Nguyễn Thị N, sinh năm: 1991;

Cùng hộ khẩu thường trú: Đội 9, M, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Số A ngách A đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội. Bà N có mặt, ông T1 vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Nguyễn Thị N1, sinh năm 1961;
  • Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1987;
  • Cháu Nguyễn Quốc T3, sinh năm: 2011; Cháu T3 do anh Nguyễn Văn T2 đại diện.

Đều trú tại: Khu Đ, xóm C, thị trấn C, huyện C, Hà Nội. Bà N1, anh T2, cháu T3 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

* Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

- Ngày 10/5/2019 ông Lê Xuân T1, bà Nguyễn Thị N và A ký Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX, nội dung:

Ngân hàng cho ông T1, bà N vay số tiền: 400.000.000 đồng; Mục đích vay: Sản xuất kinh doanh – Bổ sung vốn lưu động – Bổ sung vốn kinh doanh quần áo tại chợ Đ; Phương thức cho vay: vay theo hạn mức tín dụng; Thời hạn hiệu lực HMTD: 12 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng cấp tín dụng (10/5/2019); Thời hạn vay: Được ghi trên mỗi Khế ước nhận nợ, tối đa không quá 08 tháng, kể từ ngày kế tiếp của ngày giải ngân. Lãi suất vay: 9,2%/năm, một năm được tính là 365 ngày (lãi suất được cố định trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày Bên được cấp tín dụng nhận tiền vay. Lãi suất được điều chỉnh 3 tháng/lần theo công thức (Lãi suất=LS13+3%/năm+X). Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất phạt chậm trả: 10%/năm; Tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 14, tờ bản đồ số 00, địa chỉ: Khu Đ, xóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN125611 số vào sổ cấp GCN 00519 ngày 05/6/2008 thuộc sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị N1; Việc thế chấp có ký hợp đồng thế chấp, có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật.

Để thực hiện Thỏa thuận tín dụng và Hợp đồng cấp tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX A đã giải ngân cho ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N bằng Khế ước nhận nợ như sau: Số 283XXXXXX ngày 10/5/2019; số tiền cho vay: 400.000.000đồng; Thời hạn cho vay: Từ ngày 11/5/2019 đến ngày 10/01/2020; Lãi suất trong hạn: 9.2%.năm, cố định trong 03 tháng đầu tiên; Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/ lần theo công thức: Lãi suất(%/năm)=LS13+3%/năm.

- Ngày 20/7/2019 Ngân hàng cấp cho ông Lê Xuân T1 thẻ tín dụng nội địa theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, nội dung:

  • Số thẻ tín dụng: 97041631XXXXXXXX
  • Ngày cấp: 07/8/2019
  • Loại thẻ: Express (Thẻ tín dụng nội địa)
  • Hạn mức thẻ: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)
  • Hiệu lực thẻ: Tháng 8/2021
  • Lãi suất, phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A.

Quá trình thực hiện hợp đồng, đến ngày 10/01/2020 ông T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên A đã thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn đối với khoản vay của ông T1.

Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Buộc Ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N trả ngay cho A tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 02/10/2020 là 513.968.177 đồng (Bằng chữ: Năm trăm mười ba

2

triệu, chín trăm sáu mươi tám ngàn, một trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó gồm vốn gốc 452.414.327 đồng, lãi trong hạn 34.060.274 đồng, lãi quá hạn 26.252.003 đồng, phạt chậm trả lãi 1.241.573 đồng.

2. Ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N còn phải tiếp tục trả tiền phạt chậm trả lãi, tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng cấp tín dụng và Khế ước nhận nợ, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A, tính kể từ ngày 03/10/2020 đến ngày trả hết nợ.

3. Thứ tự trả nợ như sau: vốn gốc, phạt chậm trả lãi, lãi quá hạn, lãi trong hạn.

4. Nếu ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ, bao gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 14, tờ bản đồ số 00, địa chỉ: Khu Đ, xóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN12XXXX số vào sổ cấp GCN 00519 ngày 05/6/2008 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị N1.

* Bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà xác nhận bà và ông T1 có ký hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019, vợ chồng bà có vay của Ngân hàng TMCP Á khoản tiền 400.000.000 đồng, mục đích phục vụ cho việc kinh doanh. Bà cũng xác nhận Ngân hàng A cấp cho ông T1 01 thẻ tín dụng nội địa số thẻ 97041631XXXXXXXX ngày 07/8/2019 với hạn mức 50.000.000 đồng, ngày 28/11/2023 bà N đã nộp đủ số tiền nợ gốc, hiện còn lại khoản nợ lãi quá hạn là 64.845.196 đồng. Nhưng do mấy năm dịch bệnh liên tiếp nên tình hình kinh doanh của gia đình bà gặp nhiều khó khăn, hiện nay bà chưa đủ điều kiện để trả toàn bộ khoản vay cho Ngân hàng. Bà đề nghị Ngân hàng miễn lãi và cho bà trả nợ gốc khoản vay theo tháng.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn - Ngân hàng giữ nguyên ý kiến đã trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà N, ông T1 trả Ngân hàng:

Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Lê Xuân T1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á tổng số tiền tại hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 tạm tính đến ngày 12/8/2024 là: 694.487.260 đồng, bao gồm: Nợ gốc là 400.000.000đồng, Lãi trong hạn: 3.567.123 đồng; lãi quá hạn là 289.282.192 đồng. Phạt chậm trả lãi : 1.637.945 đồng

Kể từ ngày 13/8/2024 ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N tiếp tục phải chịu khoản tiền Phạt chậm trả lãi, tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ dư nợ gốc cho A.

Đối với thẻ tín dụng nội địa số thẻ 97041631XXXXXXXX ngày 07/8/2019, bà N đã trả 52.414.327 đồng nợ gốc vào ngày 28/11/2023, Ngân hàng rút yêu cầu bị đơn

3

thanh toán tiền nợ gốc của thẻ tín dụng và yêu cầu ông T1, bà N còn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi quá hạn là 64.844.523đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ các khoản nợ nêu trên và các khoản lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Á có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của các khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Á. Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 14, tờ bản đồ số 00, địa chỉ: Khu Đ, xóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) thuộc sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị N1.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N đối với Ngân hàng TMCP Á gồm nợ gốc, phạt chậm trả lãi, lãi quá hạn, lãi trong hạn của Hợp đồng tín dụng và Thẻ tín dụng nội địa. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết toàn bộ khoản nợ thì ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Á.

- Bị đơn Bà Nguyễn Thị N, đề nghị:

Vợ chồng bà N có ký hợp đồng tín dụng với A như đại diện A trình bày, mục đích vay là để trả các khoản tiền nợ trước đó và chi tiêu sinh hoạt. Do hiện nay vợ chồng không có khả năng để trả hết toàn bộ khoản nợ, đề nghị miễn, giảm lãi khoản vay cho bà, miễn lãi của khoản nợ thẻ tín dụng nội địa cho bà và cho bà xin được trả dần khoản nợ theo tháng. Đối với tài sản chỉ thế chấp để bảo đảm khoản vay của Hợp đồng tín dụng, không liên quan đến Thẻ tín dụng do ông T1 được cấp nên đề nghị không dùng tiền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ lãi của Thẻ tín dụng. Ngoài ra bà không còn ý kiến nào khác.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N1, anh Nguyễn Văn T2, cháu Nguyễn Quốc T3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

* Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên Tòa có ý kiến:

Về tố tụng:Quá trình Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bà N1, anh T2, cháu T3 không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự.

* Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ; Căn cứ Điều 317, 318, khoản 6 Điều 320, Điều 357, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 21, 26, 35, 39 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng;

- Buộc bị đơn trả nợ gốc, tiền lãi, tiền phạt chậm trả lãi theo hợp đồng tín dụng;

4

Kể từ ngày 13/8/2024 ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N tiếp tục phải chịu tiền phạt chậm trả lãi chưa thanh toán và khoản tiền lãi phát sinh trên nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ dư nợ gốc và tiền phạt chậm trả lãi của khoản vay.

- Trả nợ lãi của thẻ tín dụng nội địa theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng.

- Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất để thu hồi nợ của hợp đồng tín dụng và thanh toán khoản tiền lãi của thẻ tín dụng. Số tiền phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán trả A còn thừa đề nghị trả cho người thế chấp.

- Chấp nhận yêu cầu dùng tiền xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán khoản tiền lãi của thẻ tín dụng.

- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu buộc ông T1 trả tiền gốc của thẻ tín dụng.

-Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xuất phát từ hợp đồng dân sự giữa một bên là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh và một bên là cá nhân không có đăng ký kinh doanh; Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tín dụng.

- Thẩm quyền: Ông T1, bà N cư trú tại phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội, quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên A khởi kiện đối với bị đơn; Căn cứ Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết và xét xử là đúng thẩm quyền.

- Việc xét xử vắng mặt: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, triệu tập đương sự đến Tòa thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng; ông T1, bà N1, anh T2, cháu T3 đều vắng mặt; Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[2] Về nội dung:

2.1. Xét các hợp đồng ký giữa A với ông T1, bà N:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, thấy:

Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 được lập bằng văn bản, ký giữa A với ông T1, bà N; Nội dung của hợp đồng: Các bên thống nhất ngân hàng cho ông T1, bà N vay số tiền 400.000.000 đồng và thế chấp bất động sản để đảm bảo khoản vay; Thời hạn hiệu lực HMTD: 12 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày ký

5

Hợp đồng tín dụng; Lãi suất vay trong hạn: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/ năm.

Xét thấy: Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 được lập bằng văn bản, thỏa thuận ký giữa tổ chức tín dụng và khách vay; Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, không giả tạo, không bị ép buộc, lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn; Từng bên một đã đọc lại, hiểu rõ, nhất trí và cùng ký tên xác nhận; Mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với nội dung và mục đích giao dịch;

Nhận thấy: Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng; Căn cứ Điều 116, 117, 118, 119, 385, 401, 463 Bộ luật dân sự; ông T1, bà NA có quyền, nghĩa vụ thực hiện các nội dung đã thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng nêu trên.

2.2. Xét yêu cầu thanh toán số tiền nợ gốc:

Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, lời thừa nhận của các đương sự trong vụ án thấy: A đã giải ngân cho ông T1, bà N số tiền vay theo hợp đồng tín dụng, K ước nhận nợ và cam kết trả nợ, với số tiền vay là 400.000.000 đồng; ông T1, bà N đã nhận và sử dụng số tiền vay do Ngân hàng giải ngân; Căn cứ bảng kê do Ngân hàng cung cấp, thừa nhận của ông T1, bà N trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định tính đến ngày 12/8/2024 ông T1, bà N còn nợ số tiền gốc là 400.000.000 đồng. Như vậy, yêu cầu của A về việc buộc ông T1, bà N thanh toán toàn bộ số nợ gốc chưa thanh toán theo Hợp đồng tín dụng trên là có căn cứ, phù hợp với Điều 280, 281 và Điều 466 Bộ luật dân sự, nên được chấp nhận.

2.3. Xét yêu cầu thanh toán nợ lãi theo các hợp đồng:

Tại Hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về lãi suất tại thời điểm giải ngân: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể. Lãi suất cho vay tại khế ước nhận nợ số 283XXXXXX ngày 10/5/2019 là 9,2%/năm (một năm được tính là 365 ngày). Lãi suất cho vay được cố định trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày kế tiếp ngày Bên được cấp tín dụng nhận tiền vay. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất cho vay (%/năm)=LS13 +3%/năm +X. Phạt chậm trả lãi : 10%/năm.

Nhận thấy: Thỏa thuận về mức lãi suất A áp dụng đối với khoản vay của ông T1, bà N tại hợp đồng tín dụng là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên; phù hợp với các Quyết định của Ngân hàng về việc điều chỉnh mức lãi suất đối với từng thời điểm, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 280, 281, 466, 468 Bộ luật dân sự; Do đó, yêu cầu của A được chấp nhận. Buộc ông T1, bà N phải trả tổng tiền lãi trên số tiền nợ gốc của hợp đồng tín

6

dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 chưa thanh toán tính đến ngày 12/8/2024 là 294.487.260 đồng, gồm: Lãi trong hạn: 3.567.123 đồng; lãi quá hạn là 289.282.192 đồng. Phạt chậm trả số tiền lãi 3.657.123 đồng (tính từ ngày 10/12/2019 đến ngày 10/01/2020) là 1.637.945 đồng.

+ Buộc ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 13/8/2024 đến ngày thực tế trả hết khoản nợ gốc, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019.

+ Buộc ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh trên số tiền lãi chậm trả là 3.657.123 đồng tính từ ngày 13/8/2024 đến ngày thực tế trả hết khoản lãi chậm trả, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019.

Đối với thẻ tín dụng nội địa số 97041631XXXXXXXX ngày 07/8/2019: Ngày 28/11/2023 bà Nguyễn Thị N (vợ ông T1) đã nộp trả đủ số tiền gốc của thẻ tín dụng cho A, Do vậy, ông T1, bà N còn phải trả đối với dư nợ lãi quá hạn chưa thanh toán là 64.844.523 đồng là phù hợp với thỏa thuận của hai bên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 20/7/2019 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A.

2.4. Xét yêu cầu của A đối với việc xử lý tài sản thế chấp khi ông T1, bà N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán:

Để đảm bảo cho các khoản vay ông T1 và bà N, bà Nguyễn Thị N1 (mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị N) đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP Á bất động sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 14, tờ bản đồ số 00, địa chỉ: Khu Đ, xóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN125611 số vào sổ cấp GCN 00519 ngày 05/6/2008 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị N1.

Việc thế chấp được lập Hợp đồng thế chấp tài sản có công chứng số 164.2016/HĐTC ngày 22/01/2016 giữa A với bà Nguyễn Thị N1 tại Văn phòng C; Ngày 24/02/2011 Văn phòng Đ1- Chi nhánh huyện C đã chứng nhận việc thế chấp tài sản theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để đảm bảo cho khoản vay giữa ông T1, bà N với A theo hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019.

Nhận thấy: Theo nội dung hợp đồng thế chấp, các bên xác nhận việc giao kết hợp đồng và cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung của hợp đồng; Trước khi ký các bên đã tự đọc lại tòan bộ bản hợp đồng, hiểu rõ nội dung hợp đồng và ký xác nhận. Hợp đồng được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực; Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Sau khi thế chấp, tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định. Căn cứ Điều 116,117,118,119, 298, 317, 318, 319, 320 Bộ luật dân sự; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006; Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về "Giao

7

dịch bảo đảm"; Xác định Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật; Các bên có quyền, nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện các thỏa thuận đã ký.

Nội dung của Hợp đồng thế chấp thể hiện tài sản thế chấp được bảo đảm cho các khoản vay của bên được cấp tín dụng với nguyên đơn, kể cả trường hợp phát sinh sau thời điểm ký hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 ký giữa A với ông T1, bà N. Do vậy, Thẻ tín dụng nội địa số 97041631XXXXXXXX ngày 07/8/2019 ký giữa A với ông T1 cũng được bảo đảm từ tài sản thế chấp trên, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của A về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường hợp ông T1, bà N không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 ký giữa A với ông T1, bà N và tiền lãi của thẻ tín dụng nội địa số 97041631XXXXXXXX ngày 07/8/2019 ký giữa A với ông T1.

Từ nhận định trên thấy yêu cầu của bị đơn không dùng tiền xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán khoản nợ lãi của Thẻ tín dụng là không có căn cứ chấp nhận.

* Đối với ý kiến, quan điểm của bà N:

Bà xác nhận bà và ông T1 có ký hợp đồng tín dụng số TCO.CN.1009.XXXXXX ngày 10/5/2019, vợ chồng bà có vay của Ngân hàng TMCP Á khoản tiền 400.000.000 đồng, mục đích phục vụ cho việc trả nợ tiền kinh doanh và tiêu dùng. Bà cũng xác nhận Ngân hàng A cấp cho ông T1 01 thẻ tín dụng nội địa số thẻ 97041631XXXXXXXX ngày 07/8/2019 với hạn mức 50.000.000đồng, ngày 28/11/2023 bà đã nộp trả toàn bộ tiền gốc vào thẻ tín dụng, hiện chỉ còn khoản nợ lãi quá hạn. Nhưng do mấy năm dịch bệnh liên tiếp nên tình hình kinh doanh của gia đình bà gặp nhiều khó khăn, hiện nay bà chưa đủ điều kiện để trả toàn bộ khoản vay cho Ngân hàng. Bà đề nghị miễn lãi quá hạn của Thẻ tín dụng, miễn lãi của khoản vay theo Hợp đồng tín dụng và cho bà trả nợ gốc khoản vay theo tháng.

Xét thấy: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai và Tòa án nhân dân quận Đống Đa tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng Ngân hàng A và bà N, ông T1 đều không thống nhất được phương án hòa giải. Từ nhận định trên, không có căn cứ để chấp nhận ý kiến, quan điểm của bà N.

[3]. Đối với số tiền gốc của thẻ tín dụng nội địa: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã rút yêu cầu đối với số nợ gốc của thẻ tín dụng nội địa, chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số nợ lãi quá hạn, việc rút yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu mà nguyên đơn đã rút theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Điều luật áp dụng: Giao dịch dân sự giữa A và ông T1, bà N được ký và thực hiện từ 2019; giao dịch có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 688 Bộ luật dân sự, áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 để xét xử.

[4]. Án phí: Ông T1, bà N phải chịu án phí dân sự theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

8

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Các Điều 116, 117, 118, 119, 280,463, 466, 468, 317, 318, 319, 320, 298, 299 và Điều 688 Bộ luật dân sự
  • Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.
  • Điều 18, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
  • -Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006; Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về "Giao dịch bảo đảm".

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP Á khởi kiện đối với ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N về Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 và Thẻ tín dụng nội địa số thẻ 97041631XXXXXXXX ngày 07/8/2019. Cụ thể:

- Xác nhận tính đến ngày 12/8/2024, ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N còn nợ Ngân hàng TMCP Á, theo Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 tổng số tiền là: 694.487.260 (sáu trăm chín mươi bốn triệu bốn trăm tám mươi bảy nghìn hai trăm sáu mươi) đồng, gồm: Nợ gốc 400.000.000đồng, nợ lãi trong hạn 3.567.123 đồng và nợ lãi quá hạn 289.282.192đồng, phạt chậm trả lãi: 1.637.945 đồng.

Buộc ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N trả cho Ngân hàng TMCP Á số tiền trên.

+ Buộc ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 13/8/2024 đến ngày thực tế trả hết khoản nợ gốc, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019.

+ Buộc ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh trên số tiền lãi chậm trả là 3.657.123 đồng tính từ ngày 13/8/2024 đến ngày thực tế trả hết khoản lãi chậm trả, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.090519 ngày 10/5/2019.

9

- Xác nhận tính đến ngày 12/8/2024 ông T1N còn nợ lãi quá hạn của thẻ tín dụng nội địa số thẻ 97041631XXXXXXXX số tiền: 64.844.523 đồng.

Buộc ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N trả cho Ngân hàng TMCP Á số tiền : 64.844.523 đồng.

2. Đình chỉ yêu cầu buộc T1, bà N phải trả số tiền nợ gốc của thẻ tín dụng nội địa số thẻ 97041631XXXXXXXX ngày 07/8/2019.

3. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ và lãi phát sinh nêu trên thì Ngân hàng TMCP Á có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 và nợ lãi quá hạn của thẻ tín dụng nội địa số thẻ 97041631XXXXXXXX để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Á, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 14, tờ bản đồ số 00, địa chỉ: Khu Đ, xóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN125611 số vào sổ GCN 00519 ngày 05/6/2008 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị N1.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N cho Ngân hàng TMCP Á theo Hợp đồng tín dụng số TCO.CN.2887.XXXXXX ngày 10/5/2019 và thẻ tín dụng nội địa số thẻ 97041631XXXXXXXX ngày 07/8/2019. Trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết toàn bộ khoản nợ thì ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N phải tiếp tục có nghĩa vụ trả hết toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Á. Trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm sau khi thanh toán cho Ngân hàng còn thừa thì trả lại cho bà Nguyễn Thị N1.

4. Án phí: Ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị N phải nộp 34.373.271 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP Á số tiền tạm ứng án phí 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 02362 này 22/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự.
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quản Văn Tiến

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/DS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 181/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger