Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-7-2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền;

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hoàng Tâm

Bà Nguyễn Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn An Ninh - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2024/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 96/2024/QÐST-HNGĐ ngày 10/6/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Vũ Việt H, sinh năm 1989 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  3. Bị đơn: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1994 (vắng mặt)
  4. Nơi thường trú và địa chỉ cuối cùng của chị T tại Việt Nam: Thôn B, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (Hiện chị T đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Vũ Việt H trình bầy:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn anh và chị T được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 20/5/2019 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện V (nay là phường B, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng khiến vợ chồng anh không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa nên anh và chị T đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân chị T đi nước ngoài. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Đỗ Thị T.

Về con chung: Anh và chị T không có con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh và chị T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh H trình bầy: Do công việc bận nên anh không thể đến Tòa án để tham gia tố tụng nên anh đề nghị vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nói trên.

Chị Đỗ Thị T là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Ngày 16/4/2024 và ngày 26/4/2024, Tòa án đã tiến hành xác minh với người thân của chị T là ông Đỗ Văn Đ, sinh năm 1960 (là bố chị T), địa chỉ thôn B, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, ông Đ cung cấp như sau: Chị T là con gái ông, chị T anh H kết hôn ngày 20/5/2019, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị T và anh H chung sống với nhau không hạnh phúc nên đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Năm 2022 chị T đi lao động tại nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình nhưng gia đình không biết địa chỉ của chị T. Chị T và anh H không có con chung, không có tài sản chung, công nợ chung.

Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, ông đã thông báo cho chị T biết nhưng chị T không gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và từ chối cung cấp địa chỉ hiện tại của chị T tại nước ngoài. Chị T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Vũ Việt H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Đỗ Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Vũ Việt H, biên bản làm việc với ông Đỗ Văn Đ và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh Vũ Việt H có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị Đỗ Thị T không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

Về hôn nhân: Cho anh Vũ Việt H được ly hôn chị Đỗ Thị T.

Về án phí: Anh Vũ Việt H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh H đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Vũ Việt H khởi kiện xin ly hôn chị Đỗ Thị T. Chị T hiện đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể của chị T. Theo Công văn số: 9477/QLXNC-P3 ngày 07/5/2024 của Cục Q - Bộ C cung cấp, chị T xuất nhập cảnh 05 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 18/11/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vụ án có bị đơn chị T hiện nay đang ở nước ngoài. Địa chỉ cuối cùng của chị T ở Việt Nam tại: thôn B, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. [2].Về việc vắng mặt của đương sự:
  3. Đối với nguyên đơn: Anh Vũ Việt H có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H.

    Đối với bị đơn chị Đỗ Thị T: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn, ông Đ (là bố chị T), Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của chị T trước khi xuất cảnh ở thôn B, xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị T thông qua người thân của chị T là ông Đỗ Văn Đ và đề nghị ông Đ thông báo cho chị T biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn” giữa nguyên đơn là anh Vũ Việt H và bị đơn chị Đỗ Thị T. Ông Đ cho biết chị T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị T không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị T tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

  4. [3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Việt H và chị Đỗ Thị T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 20/5/2019 tại Ủy ban nhân dân xã B (nay là phường B), huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng anh H, chị T phát sinh mâu thuẫn, anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Đỗ Thị T.
  5. Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Vũ Việt H đối với chị Đỗ Thị T. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh H và chị T chung sống với nhau không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn trở nên trầm trọng từ năm 2020 nên anh H và chị T sống ly thân. Năm 2022 chị T đi lao động tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh H, chị T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H đối với chị T, xử cho anh Vũ Việt H được ly hôn chị Đỗ Thị T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

  6. [4]. Về con chung: Anh H và chị T không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  7. [5].Về tài sản, công nợ chung: Anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  8. [6].Về án phí: Anh Vũ Việt H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  9. [7]. Về quyền kháng cáo:
  10. Nguyên đơn anh Vũ Việt H đang ở trong nước vắng mặt tại phiên, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Bị đơn chị Đỗ Thị T đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Anh Vũ Việt H được ly hôn chị Đỗ Thị T.
  2. Về án phí: Anh Vũ Việt H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001138 ngày 09/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Vũ Việt H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Vũ Việt H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  4. Chị Đỗ Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND phường Bích Động, thị xã Việt Yên,
  • tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 181/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa anh H và chị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger