|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 181/2024/HNGĐ-ST Ngày 07-5-2024 V/v tranh chấp xin ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Văn Đen.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Duyên Văn Hiền;
2. Ông Văn Công Trọn.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Tiên – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 171/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024, về việc “ Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T. Sinh năm: 1986 (xin vắng mặt).
- - Bị đơn: Bà Huỳnh Thị H. Sinh năm: 1986 (vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Minh T trình bày:
Về hôn nhân: Ông T và bà H kết hôn với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, việc kết hôn là tự nguyện. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn được ông T xác định là trong thời gian chung sống vợ chồng không hòa hợp với nhau, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tự hàn gắn được. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, ông T xác định tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục. Nay ông T yêu cầu được ly hôn với bà H.
Về con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Thị M, sinh ngày 25/10/2009, Nguyễn Thị Mai V, sinh ngày 04/02/2012, hiện tại hai cháu M, V đang chung sống cùng ông T, khi ly hôn ông yêu cầu được nuôi 2 cháu, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc riêng, ông xin vắng mặt tại phiên xét xử của tòa án.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Huỳnh Thị H đúng theo quy định pháp luật nhưng bà H không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Huỳnh Thị H có nơi cư trú tại Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với bà H nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Tranh chấp xin ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia xét xử nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ theo Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt ông T, bà H theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Ông bà tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K vào năm 2008 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện ông bà đã ly thân nhau. Ông T xác định không còn tình cảm vợ chồng với bà H và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Trường hợp nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của ông T được ly hôn với bà H.
[3] Về con chung:
Có 02 người con chung tên Nguyễn Thị M, sinh ngày 25/10/2009, Nguyễn Thị Mai V, sinh ngày 04/02/2012, hiện tại hai cháu M, V đang chung sống cùng ông T, khi ly hôn ông yêu cầu được nuôi 2 cháu, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu M, cháu V từ trước đến nay đều chung sống cùng ông T, điều kiện hoàn cảnh sống của các cháu tốt, cháu M, V cũng có nguyện vọng được sống chung với cha là ông T. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng, điều kiện hoàn cảnh sống của các cháu nên giao các cháu M, V cho ông T nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp và tốt nhất với các cháu. Ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi dưỡng con chung có khó khăn, vất vả và không có khả năng nuôi dưỡng con chung thì ông T có quyền khởi kiện thành một vụ kiện khác về cấp dưỡng nuôi con. Bà H không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở việc thăm nom con chung của bà H.
[4] Về tài sản chung, nợ chung:
Ông T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp thì sẽ được giải quyết ở một vụ kiện khác.
[5] Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc ông T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình; Bà H không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T về việc yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Thị H.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị M, sinh ngày 25/10/2009, Nguyễn Thị Mai V, sinh ngày 04/02/2012 cho ông Nguyễn Minh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Bà Huỳnh Thị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Bà Huỳnh Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Ông Nguyễn Minh T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Ông có dự nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004705 ngày 18/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Đen |
Bản án số 181/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 181/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T yêu cầu ly hôn với Huỳnh Thị H
