Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HS-ST

Ngày: 06/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Hải Yến;

Bà Ngô Thị Bích Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Bá Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2024/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Đăng T (tên gọi khác: T1), sinh ngày 15/12/1981 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Lô H F, khu Q, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Đạp xích lô; trình độ văn hóa: 3/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Lê Đăng T2, sinh năm 1950 và bà Trương Thị L (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 01/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 108/2020/HS-ST). Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 01/01/2022.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/02/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cho đến nay. Có mặt.

* Bị hại: Trung tâm Công viên Cây xanh H.

Địa chỉ: Tổ I, khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Song T3, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Tổ E, khu V, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Xuân N, sinh năm 1951.

Địa chỉ: Số A H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào các ngày 04, 06 và 08/10/2023, Lê Đăng T đã sử dụng phương thức, thủ đoạn tương tự nhau là xe đạp xích lô của mình, biển số “H-HS:02 LÊ ĐĂNG THÀNH" đến khu vực phố đi bộ Nguyễn Đình C thuộc địa phận các phường P và P, thành phố H để trộm các thùng chứa rác của Trung tâm C1 bán lấy tiền tiêu dùng, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất và thứ hai: Khoảng 03 giờ ngày 04 và 06/10/2023, T đạp xe xích lô đến phố đi bộ N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế để trộm cắp 02 lần 02 thùng chứa rác để ở gần chân cầu Trường T4 đưa ra xe xích lô chở đến vỉa hè đối diện quán B H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại đây, T đưa thùng chứa rác xuống dùng gạch phá lấy các miếng gỗ ra để lại ở đó. Còn lại 02 thùng sắt, T đưa đến bán phế liệu cho ông Đỗ Xuân N (sinh năm 1951, nơi cư trú: số A H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) lấy 400.000 đồng tiêu xài hết.

Vụ thứ ba: Khoảng 03 giờ ngày 08/10/2023, T tiếp tục đi xe đạp xe xích lô đến khu vực phố Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế để trộm cắp 01 thùng chứa rác đặt ở phía đối diện bờ biển Sông H, rồi đưa ra lên xe xích lô chở đến ở giấu ở vỉa hè đối diện quán B H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tiếp đó, T đạp xe quay lại phố đi bộ Nguyễn Đình C phía bên kia cầu Trường Tiền, thuộc phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế trộm thêm 01 thùng chứa rác chở đến vị trí trên rồi dùng gạch phá lấy các miếng gỗ ra. Sau đó đem 02 thùng sắt bán cho ông Đỗ Xuân N lấy 350.000 đồng tiêu xài hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 599/KL-HĐĐGTS ngày 30/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận, tại thời điểm bị chiếm đoạt: 04 thùng rác, trị giá 9.600.000 đồng (Chín triệu, sáu trăm nghìn đồng).

* Vật chúng tạm giữ:

  • 04 thùng rác bằng kim loại không còn nắp và các khung gỗ.
  • 23 thanh gỗ màu nâu còn nguyên vẹn.
  • 35 thanh gỗ màu nâu đã bị gãy.
  • 01 chiếc xe xích lô biển số: “H-HS: 02 LÊ ĐĂNG THÀNH”.

* Về xử lý vật chứng:

  • Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại 04 thùng rác và các thanh gỗ cho người được ủy quyền của Trung tâm C1 là ông Lê Song T3.
  • Đối với chiếc xe xích lô biển số: “H-HS: 02 LÊ ĐĂNG THÀNH” do T sử dụng gây án tiếp tục tạm giữ phục vụ công tác xét xử, thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Trung tâm C1 và ông Đỗ Xuân N không có yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số 148/CT-VKSTPH ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Lê Đăng T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Đăng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề

2

nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đăng T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe xích lô biển số: “H-HS: 02 LÊ ĐĂNG THÀNH” của Lê Đăng T do sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Đăng T phải chịu theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 04, 06 và 08/10/2023, tại khu vực phố đi bộ N, thuộc địa phận phường P và phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Lê Đăng T đã 04 lần lén lút chiếm đoạt của Trung tâm C1 thùng đựng rác, qua định giá 04 thùng đựng rác có trị giá 9.600.000 đồng, mỗi thùng rác có trị giá 2.400.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Lê Đăng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Lê Đăng T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm đến tài sản của tổ chức được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại khu vực phố đi bộ Nguyễn Đình C, thành phố H. Bị cáo có nhân thân xấu. Phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Phạm tội 02 lần trở lên. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức phạt thích đáng, tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.

[4] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe xích lô biển số: “H-HS:02 L” của Lê Đăng T do sử dụng làm phương tiện phạm tội.

[5] Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Đăng T phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

3

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Đăng T (tên gọi khác: T1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Lê Đăng T (tên gọi khác: Trụn) 01 (Một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 22/02/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe xích lô biển số: “H-HS:02 L”.

    (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Bị cáo Lê Đăng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  5. Án sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần D

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TT Huế;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh TT Huế;
  • - VKSND TP Huế;
  • - Công an thành phố Huế;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP Huế;
  • - Chi cục THADS TP Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTР.

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 181/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LĐT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger