Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 181/2025/KDTM-PT

Ngày: 16/6/2025

V/v Tranh chấp hợp đồng thi công

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Nhàn

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Bích Thảo

Bà Trương Thị Quỳnh Trâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Hân

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20/5/2025, ngày 06/6/2025 và 16/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án về kinh doanh thương mại thụ lý số: 239/2024/TLPT-KDTM ngày 18 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng thi công”.

Do Bản án sơ thẩm số 86/2024/KDTM-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2307/QĐ-PT ngày 28 tháng 4 năm 2025 và các Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 6862/2025/QĐ-PT ngày 20, 8074/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  1. Công ty Cổ phần X; Địa chỉ: Số C, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

    Người đại diện hợp pháp của công ty: Bà Nguyễn Huỳnh H – Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 03/UQ.TK.23 ngày 10/02/2023) - có mặt

  2. Công ty TNHH X1; Địa chỉ: Số E đường E, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của công ty: Ông Lê Minh T – Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 29/11/2022) - có mặt

Bị đơn: Trường Đại học T3; Địa chỉ: Số A N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của Trường Tôn Đức T1: Ông Nguyễn Ngọc S, ông Nguyễn Ngọc Q – Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 3132/GUQ-TĐT ngày 23/9/2024) - có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: T4; Địa chỉ: Số F phố Q, Quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của T4: Ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Quan Gia B – Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 1516/GUQ-TLĐ ngày 21/6/2024) - vắng mặt

Người kháng cáo: Trường Đại học T3

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo Đơn khởi kiện đề ngày 11/03/2022, đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện ngày 11/9/2024 và trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm nguyên đơn Công ty Cổ phần X trình bày:

    Công ty Cổ phần X (gọi tắt là Công ty X) và Trường Đại học T3 (gọi tắt là Trường T3) có ký Hợp đồng kinh tế số 270/HĐCC-TC.2020 ngày 22/07/2020 về thực hiện gói thầu thi công ép cọc thử và thử tải tĩnh cọc công trình khối hành chánh và thư viện, ký túc xá 01; ký túc xá 02, hồ bơi dự án Phân hiệu Trường Đại học Tôn Đức Thắng tỉnh T3– Địa điểm: thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; Giá trị hợp đồng: 399.999.360 đồng; Thời gian thực hiện hoàn thành toàn bộ khối lượng công việc là 20 ngày kể từ ngày 22/7/2020; Trường T3 đã tạm ứng trước 50% là 200.000.000 đồng; Khối lượng thực tế Công ty X thực hiện là 414.756.720 đồng.

    Ngày 11/8/2020, Công ty X đã hoàn thành việc cung cấp cọc, ép cọc và thử nghiệm cho dự án Phân hiệu Trường Đại học Tôn Đức Thắng tỉnh T3 giai đoạn 1 – gói thầu thi công ép cọc thử và thử tải tĩnh cọc – Công trình khối hành chánh và thư viện, ký túc xá 01; ký túc xá 02, hồ bơi – Địa điểm: thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.

    Ngày 15/9/2020, Công ty X gửi hồ sơ cho T2 Đại học Tôn Đức T1 gồm: Giấy đề nghị thanh toán, Biên bản nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng, Bảng quyết toán khối lượng và giá trị thực hiện, Tài liệu quản lý chất lượng theo quy định, Biên bản thanh lý hợp đồng để tiến hành nghiệm thu và thanh toán nhưng Trường Tôn Đức T1 không phản hồi dù Công ty X liên tục nhắc nhở, ngày 20/01/2022, Trường T3 gửi trả hồ sơ lại cho Công ty X và không ký biên bản nghiệm thu, hồ sơ quyết toán, biên bản thanh lý với lý do ông Lê Vinh D, Hiệu trưởng Trường Đại học T3 bị Ban Thường vụ Đảng ủy khối Đại học, Cao đẳng Thành phố H bị cách chức nên chưa thanh toán được cho Công ty X.

    Công ty X có nhiều lần gửi văn bản cho T2 Đại học Tôn Đức T1 về việc đề nghị thanh toán công nợ, nhưng đến ngày 31/12/2021 Trường Đại học T3 phản hồi Công văn số 378/CV-BK.21 như sau: “Theo Kết luận kiểm tra số

1690/KLKT-TLĐ ngày 07/11/2019 của T4, nhà trường chỉ được phép thanh toán với các nhà thầu, nhà cung cấp sau khi đã hoàn thiện đầy đủ thủ tục hồ sơ gói thầu theo quy định của Pháp luật. Thêm vào đó, trong văn bản số 2256/TLÐ ngày 02/7/2021 của T4 về hướng dẫn xử lý một số vấn đề liên quan đến hồ sơ thanh toán, T4 yêu cầu nhà trường phải ghi nhận hiện trạng và trình cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý, tuyệt đối không tiếp tục triển khai thanh toán, nghiệm thu. Gói thầu mà Q1 Công ty thực hiện cho Nhà trường thuộc đối tượng được đề cập trong các văn bản nêu trên, do đó Nhà trường chưa thể tiến hành các thủ tục tiếp theo”.

Công ty X có gửi Văn bản số 193 ngày 21/06/2021 cho Tổng L. Ngày 02/7/2021, T4 có trả lời bằng Văn bản số 2257/TLĐ ngày 02/7/2021 trả lời “Việc ký kết hợp đồng và thanh quyết toán công trình mà Công ty Cổ phần X đề nghị tại Văn bản số 193/CV-BK.21 ngày 21/6/2021 thuộc thẩm quyền giải quyết của Trường Đại học T3 – Đơn vị ký kết hợp đồng với Công ty Cổ phần X. Do đó, đề nghị Công ty Cổ phần X liên hệ làm việc với Trường Đại học T3 để giải quyết theo quy định”.

Việc trả lời của Trường Đại học T3 tại Văn bản số 2893/TĐT-QLDA ngày 31/12/2021 Công ty X không thống nhất với nội dung trên với lý do như sau:

  • Thứ nhất: Theo Hợp đồng Kinh tế số 270/HĐCC-TC.2020 ngày 22/07/2020 thì ngày ký hợp đồng sau ngày Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ ngày 07/11/2019 của T4.
  • Thứ hai: Theo nội dung Văn bản số 2257/TLĐ ngày 02/7/2021 của T4 thì phần thanh toán tiền thuộc thẩm quyền giải quyết của Trường Đại học T3.
  • Thứ ba: Tại văn bản số 2256/TLĐ ngày 02/7/2021 của T4 về hướng dẫn xử lý một số vấn đề liên quan đến hồ sơ thanh toán, T4 yêu cầu nhà trường phải ghi nhận hiện trạng và trình cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý, tuyệt đối không tiếp tục triển khai thanh toán, nghiệm thu. Đối với nội dung của Văn bản này thì Công ty X không hề nhận được Văn bản nêu trên từ T4.

Công ty X không đồng ý với đề nghị của Trường T3, công trình đã hoàn thành từ tháng 8/2020 đến nay Trường Tôn Đức T1 vẫn chưa có hướng giải quyết, cũng như xem xét thanh toán cho Công ty X.

Công ty X yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Trường Đại học T3 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty X ngay khi bản án có hiệu lực số tiền còn thiếu là: 214.756.720 đồng, thanh toán tiền lãi trên số tiền chậm trả đến ngày xét xử là: 83.249.590 đồng, cụ thể: Từ ngày 26/9/2020 – 16/09/2021: 356 ngày x 9.9%/năm x 204.018.884 đồng (95% giá trị hợp đồng) = 19.699.840 đồng. (Ngày gửi hồ sơ thanh toán ngày 16/9/2020, lãi tính trừ tiền bảo hành 5% trong vòng 12 tháng theo Điều 4 về bảo hành công trình); Từ ngày 17/09/2021 – 11/9/2024: 1.091 ngày x 9.9%/năm x 214.756.720 đồng = 63.549.750 đồng. Tổng cộng là: 298.006.310 đồng. Và tiếp tục trả lãi trên số tiền chậm thanh toán cho đến khi thi hành xong.

(Lãi chậm trả được tính theo Điều 3 mục 3.2 về thanh toán quyết toán và Điều 4 về bảo hành công trình. Lãi suất được tính bình quân 3 ngân hàng: Ngân hàng V: 12.25%/năm, ngân hàng S1: 8.5%/năm, ngân hàng B1: 8.95%/năm).

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, Công ty X xin rút lại yêu cầu thanh toán tiền phạt vi phạm đối với Trường T3 được nêu trong đơn khởi kiện và xác định lại yêu cầu như trên.

  1. Theo Đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2022 và trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm nguyên đơn Công ty TNHH X1 trình bày:

    Ngày 27/7/2018, Trường Đại học T3 (gọi tắt là Trường T3) và Công ty TNHH X1 (gọi tắt là Công ty X1) ký kết Hợp đồng kinh tế số 83/2018-TĐT-TV về việc giao nhận thầu xây lắp Gói thầu san lấp mặt bằng thuộc Dự án Trường Đại học T3 – Cơ sở T3, với nội dung Công ty X1 nhận gói thầu san lấp mặt bằng Công trình Trường Đại học T3 – Cơ sở T3 theo đúng thiết kế được duyệt và hồ sơ mời thầu; Địa điểm xây dựng: Thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; Thời gian thi công: 150 ngày tính từ ngày Trường T3 bàn giao mặt bằng cho Công ty X1 (hoặc Trường T3 phát lệnh khởi công công trình); Giá hợp đồng: theo đơn giá cố định và khối lượng thanh toán theo thực tế; Giá trị hợp đồng: Giá trúng thầu (đã bao gồm thuế GTGT): 16.268.344.909 đồng, Giá trị hợp đồng sau thương thảo (đã bao gồm thuế GTGT): 16.000.000.000 đồng;

    Sau khi ký kết hợp đồng nêu trên, hai bên tiến hành thực hiện hợp đồng, Trường Tôn Đức T1 giao cho Công ty X1 và Công ty X1 tiến hành thi công thực hiện san lấp mặt bằng đúng theo hợp đồng, đúng tiến độ, đúng theo chất lượng công trình theo hồ sơ đã ký.

    Đến ngày 21/12/2018, Công ty X1 đã thi công hoàn thành các hạng mục công trình đúng như hợp đồng. Công ty X1 đã bàn giao công trình cho Trường Tôn Đức T1 đưa vào sử dụng. Nhưng phía Trường T3 không hoàn tất việc thanh quyết toán công trình theo đúng như hợp đồng.

    Theo như Hợp đồng đã ký số 83/2018-TĐT-TV ngày 27/7/2018, thì tổng giá trị hợp đồng (sau VAT) là 16.000.000.000 đồng. Nhưng giá trị thực tế đã thi công hoàn thành (sau VAT) là 15.024.000.000 đồng.

    Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía Trường T3 đã thanh toán cho Công ty X1 được 02 đợt là 12.622.500.000 đồng. Đến đợt thứ 3 là đợt sau cùng, cũng là đợt quyết toán công trình, thì phía Nhà trường đã nhận toàn bộ Công trình và đưa vào sử dụng từ ngày 21/12/2018 và kéo dài hết 12 tháng bảo hành công trình, nhưng phía Nhà trường cũng không chịu ký biên bản quyết toán, thanh toán tiền cũng như thanh lý hợp đồng.

    Tính đến ngày 21/12/2019, số tiền còn lại đợt cuối cùng chưa thanh toán và số tiền bảo hành công trình là 5% giá trị hợp đồng đã đến hạn thanh toán là tổng số tiền mà Trường Tôn Đức T1 còn phải thanh toán cho Công ty X1 là 2.401.500.000 đồng.

Công ty X1 đã nhiều lần liên hệ và gửi văn bản cho phía Nhà trường yêu cầu thanh toán dứt điểm và thanh lý hợp đồng nhưng Trường T3 không có văn bản phản hồi, đến ngày 13/01/2022, công ty X1 nhận được Công văn số 107/TĐT-QLDA của Trường Đại học T3 về việc phản hồi văn bản số 002/2022/CV/TV-KH của Công ty X1, với nội dung là Nhà trường chưa thể tiếp tục thanh toán cho chúng tôi do Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ ngày 07/11/2019 của T4 và văn bản số 2256/TLĐ ngày 02/7/2021 của T4 về hướng dẫn xử lý một số vấn đề liên quan đến hồ sơ thanh toán, Tổng Liên đoàn yêu cầu Nhà trường phải ghi nhận hiện trạng và trình cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết, xử lý, tuyệt đối không tiếp tục thanh toán, nghiệm thu.v.v.

Ngày 11/11/2022, Công ty X1 nhận được Công văn số 3308/TĐT-KHDA của Trường Đại học T3 về việc phản hồi công văn số 085/2022/CV-TV/KTKH của Công ty X1, với nội dung là: Đây là tình huống bất khả kháng, nên chưa thể thanh toán cho Công ty X1 được.

Việc Trường T3 không thanh quyết toán và thanh toán giá trị hợp đồng đã thi công, trong khi Công trình Công ty X1 thi công đã hoàn thành, bên Nhà trường đã đưa vào sử dụng từ năm 2018 đến nay làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Công ty X1. Phía Trường T3 đã vi phạm hợp đồng đã ký và cho rằng đây là tình huống bất khả kháng là không đúng.

Theo quy định tại Điều 13.2 Hợp đồng 83/2018-TĐT-TV quy định về phạt do bên A chậm thanh toán: “Bên A vi phạm về thời hạn thanh toán theo cam kết tại Khoản 7.2 Điều 7 Hợp đồng này thì bên A phải chịu phạt 10.000.000 đồng/01 ngày chậm trễ .v.v.”

Tính từ ngày hết hạn bảo hành (21/12/2019) đến nay (11/9/2024) là 1.698 ngày, số tiền phạt tính theo ngày là: 1.698 ngày x 10.000.000 đồng/ngày = 16.980.000.000 đồng.

Nhưng theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại quy định về mức phạt vi phạm không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm nên số tiền phạt vi phạm trong hợp đồng này là: 2.401.500.000 đồng x 8% = 192.120.000 đồng.

Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại và Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Dân sự, thì Công ty X1 có quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán theo lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả (tính theo mức cho vay trung hạn trung bình của 03 ngân hàng là Ngân hàng TMCP Đ – CN Quận G (8,95%/năm), Ngân hàng TMCP C – CN N (12,5%/năm) và Ngân hàng TMCP S2 (8,5%/năm) là (8,95 + 12,5 + 8,5)/3 = 9,9%/năm = 0,825%/tháng; Lãi suất quá hạn trung bình là 0,825%/tháng x 150% = 1,237%/tháng tính từ ngày 21/12/2019 đến ngày 11/9/2024 là 56,6 tháng: 2.401.500.000 đồng x 1,237%/tháng x 56,6 tháng = 1.681.391.013 đồng.

Nay Công ty X1 yêu cầu Tòa án buộc Trường Đại học T3 thanh toán cho Công ty X1 ngay khi bản án có hiệu lực tổng số tiền các khoản cụ thể như sau:

Số tiền còn lại phải thanh toán theo hợp đồng: 2.401.500.000 đồng; Tiền phạt vi phạm hợp đồng: 192.120.000 đồng; Tiền lãi chậm thanh toán đến khi thanh toán hết nợ, tính đến ngày 11/9/2024 là 1.681.391.013 đồng; Tổng cộng là: 4.275.011.013 đồng.

  1. Trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm Bị đơn, Trường Đại học T3 có người đại diện hợp pháp là ông Nguyên Ngọc S và ông Nguyên Ngọc Q cùng trình bày:

    * Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X:

    Xác nhận ngày 22/7/2020, Trường Đại học T3 ký hợp đồng kinh tế số 270/HĐCC-TC/2020 với Công ty Cổ phần X, gói thầu “Thi công ép cọc thử và thử tải tĩnh cọc” thuộc dự án “Phân hiệu Trường Đại học Tôn Đức Thắng tỉnh T3 giai đoạn 1”. Giá trị hợp đồng: 400.000.000 đồng. Tổng số tiền T2 đã tạm ứng cho Nhà thầu 200.000.000 đồng. Thời gian hoàn thành theo hợp đồng: 20 ngày kể từ ngày 22/7/2020.

    - Dự án Trường Đại học T3 là một trong các dự án được kiểm tra, và được nêu trong kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ ngày 07/11/2019 với những sai phạm, thiếu sót như sau:

    • + Không có báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, không có báo cáo thẩm định chủ trương đầu tư.
    • + Hội đồng trường đã phê duyệt dự án đầu tư tại Quyết định số 09/2016/TĐT-QĐ ngày 30/6/2016, nhưng đang còn thiếu các hồ sơ: Thiết kế cơ sở, Văn bản thẩm định của Cơ quan chuyên môn về xây dựng về TKCS, Báo cáo đánh giá tác động môi trường, văn bản thẩm duyệt về PCCC, thỏa thuận đấu nối hạ tầng kỹ thuật.
    • + Dự toán xây dựng/Dự toán gói thầu được phê duyệt chỉ trên cơ sở báo cáo thẩm tra của đơn vị tư vấn thẩm tra, không có ý kiến thẩm định cơ quan chuyên môn thuộc Bộ X2 đối với công trình cấp 1. Như vậy, Chủ đầu tư đã phê duyệt dự toán gói thầu nhưng không tuân thủ Khoản 1, Điều 25 nghị định số 59/2019/NĐ-CP, khoản 10 điều 1 Nghị định số 42/2017/NĐ-CP.
    • + Không lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu tổng thể.

    Về tiến độ gói thầu:

    - Sau khi ký hợp đồng, ngày 23/7/2020, Đại diện Nhà trường, tư vấn giám sát và tư vấn thiết kế đã tiến hành bàn giao tim mốc, cao độ cho đơn vị thi công để triển khai thi công.

    - Ngày 17/8/2020, Công ty Cổ phần X và Tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế, chủ đầu tư đã ký biên bản xác nhận khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng.

    - Sau khi nhà thầu hoàn thành các công việc theo hợp đồng, Công ty X đã trình biên bản nghiệm thu đưa vào sử dụng, đã được đơn vị tư vấn giám sát (Trung tâm T5 – Trường Đại học T3) ký xác nhận, Ban QLDA và Đại diện Nhà trường thời điểm đó chưa ký.

    - Công ty CP X có gửi các văn bản số 510/CV-BK.2020 (13/10/2020), 584/CV-BK.2020 (08/12/2020), 378/CV-BK.2021 (20/12/2021) về việc đề nghị thanh quyết toán công trình.

    - Để trả lời Công ty X, Nhà trường đã phát hành văn bản số 2060/2020/TĐT-VB (10/11/2020), 726/2021/TĐT-VB (31/3/2021), 2893/TĐT-QLDA (31/12/2021).

    - Ngày 25/5/2022 Công ty X có gửi văn bản số 113/CV-BK.2022 v/v thông báo khởi kiện Trường Đại học T3 do vi phạm Hợp đồng 270/HĐCC-TC/2020 ngày 22/7/2020.

    - Ngày 04/01/2023, Công ty X đã gửi đơn khởi kiện bổ sung về việc “Tranh chấp Hợp đồng xây dựng” lên Tòa án nhân dân Quận 7.

    Về việc nghiệm thu và thanh toán:

    - Đối với công tác nghiệm thu và thanh toán: Hiện Nhà trường đã tạm ứng cho đơn vị thi công 200.000.000 đồng.

    Đối với thủ tục nghiệm thu quyết toán, hiện gói thầu Thi công ép cọc thử và thử tải tĩnh cọc còn thiếu các thủ tục như sau:

    • + Chưa có biên bản nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng giữa Nhà thầu và Chủ đầu tư.
    • + Chưa có bộ hồ sơ quản lý chất lượng, chưa có bản vẽ hoàn công được phê duyệt.
    • + Chưa có hồ sơ Quyết toán được Chủ đầu tư phê duyệt.

    Ngày 07/11/2019, T4 có Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ trong đó xác định nguồn vốn của T2 thực hiện là vốn nhà nước ngoài ngân sách vì vậy công tác đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản của T2 phải tuân thủ theo Luật Đầu tư công, Luật xây dựng, Luật đấu thầu. Kết luận cũng nêu rõ: “Chủ đầu tư (Trường T3) đã không tuân thủ Luật đầu tư công, Luật đấu thầu dẫn đến vi phạm và sai phạm trong công tác trình thẩm định thiết kế, dự toán; công tác lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng, công tác nghiệm thu, thanh toán... từ đó gây thất thoát trong công tác đầu tư xây dựng”.

    Tại Thông báo kèm theo Quyết định số 1243/QĐ-TLĐ ngày 24/8/2020 và Công văn số 1265/TLĐ ngày 18/11/2020 Tổng Liên đoàn yêu cầu Trường Đại học T3: “rà soát toàn bộ trình tự, thủ tục đầu tư các dự án và thực hiện việc thẩm định dự toán công trình, kiểm tra khối lượng thiết kế, khối lượng hoàn thành và hoàn thiện đầy đủ hồ sơ, tiến hành quyết toán các dự án hoàn thành theo đúng quy định của pháp luật. Yêu cầu chỉ được phép thanh toán với các nhà thầu, nhà cung cấp khi đã đảm bảo đầy đủ điều kiện thanh toán theo đúng quy định của pháp luật”.

    Thực hiện Kết luận kiểm tra của Tổng Liên đoàn, Nhà trường đã tiến hành rà soát các dự án đang triển khai. Đối với dự án: Phân hiệu Trường Đại học Tôn Đức Thắng tỉnh T3, sau khi rà soát, có một số vấn đề phát sinh như sau:

    1. Khi tiến hành dự án này, người có thẩm quyền của Trường Đại học T3 đã xác định sai nguồn vốn (cho rằng vốn đầu tư là vốn khác) nên đã không áp dụng các thủ tục đầu tư theo đúng pháp luật về đầu tư công, dẫn đến việc Nhà trường không thực hiện đúng các thủ tục đầu tư theo pháp luật.
    2. Nhà trường đã đề nghị cơ quan chủ quản là Tổng Liên đoàn hướng dẫn các biện pháp khắc phục các sai phạm để thực hiện việc thanh quyết toán với các nhà thầu. Tuy nhiên, hiện nay Tổng Liên đoàn đã chuyển hồ sơ sang Bộ C1 để nghị làm rõ dấu hiệu tiêu cực liên quan đến hoạt động quản lý đầu tư, xây dựng tại Trường Đại học T3. Hiện tại các đơn vị thuộc Bộ C1 đang xem xét chưa có ý kiến trả lời, vì vậy Tổng Liên đoàn chưa có hướng dẫn cụ thể cho T2.

    Vì các lý do trên, Trường Đại học T3 chưa thể phê duyệt hồ sơ quyết toán đối với gói thầu Thi công ép cọc thử và thử tải tĩnh cọc, thuộc dự án: Phân hiệu Trường Đại học Tôn Đức Thắng tỉnh T3 giai đoạn 1. Do đó chưa thể thực hiện việc thanh lý Hợp đồng số 270/HĐCC-TC/2020 với Công ty Cổ phần X và thực hiện việc thanh quyết toán theo quy định.

    Trường Đại học T3 trân trọng sự hợp tác và kết quả công việc mà Công ty Cổ phần X đã thực hiện trên tinh thần thiện chí với Nhà trường. Tuy nhiên, việc nghiệm thu, thanh toán gói thầu Thi công ép cọc thử và thử tải tĩnh cọc tạm thời chưa thực hiện được. Do đây là một trong các gói thầu thuộc dự án có dấu hiệu vi phạm thủ tục trước khi giao kết hợp đồng. Theo kết luận của cơ quan kiểm tra và cơ quan chủ quản, Trường Đại học T3 phải rà soát và chỉ nghiệm thu, thanh toán khi có căn cứ việc thực hiện dự án là đúng quy định pháp luật và không gây thất thoát tài sản công. Trường Đại học T3 đang tích cực rà soát, giải quyết nhưng đến nay chưa có kết luận chính thức. Vì thế, Trường Đại học T3 chưa thực hiện nghiệm thu, thanh toán cho gói thầu Thi công ép cọc thử và thử tải tĩnh cọc.

    Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Trường Tôn Đức T1 xác định lại lý do chưa thanh toán cho Công ty X như trên và trình bày bổ sung: việc ký nghiệm thu công trình, hồ sơ quyết toán công trình thuộc trách nhiệm của lãnh đạo cũ Trường T3, hiện nay lãnh đạo mới không có trách nhiệm và không thể ký hồ sơ nghiệm thu, thanh toán cho Công ty X, bản thân các ông là đại diện theo ủy quyền nên không muốn ảnh hưởng trách nhiệm pháp lý cá nhân của các ông nên không thể trình bày gì thêm.

    * Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH X1:

    - Xác nhận ngày 27/7/2018, Trường Đại học T3 (gọi tắt là Trường T3) và Công ty TNHH X1 (gọi tắt là Công ty X1) ký kết Hợp đồng kinh tế số 83/2018-TĐT-TV về việc giao nhận thầu xây lắp Gói thầu san lấp mặt bằng thuộc Dự án Trường Đại học T3 – Cơ sở T3 (được phê duyệt tại Quyết định số 515/2018/TĐT-QĐ ngày 29/3/2018 về việc Phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật công trình), giá trị hợp đồng: 16.000.000.000 đồng. Thời gian hoàn thành theo hợp đồng: 150 ngày tính từ ngày bên A bàn giao mặt bằng cho bên B.

    Tổng số tiền T2 đã trả cho nhà thầu: 12.622.500.000 đồng trong đó: Giá trị tạm ứng nhà thầu (30% giá trị HĐ): 4.800.000.000 đồng. Giá trị thanh toán đợt 1: 5.548.500.000 đồng (sau khi đã khấu trừ tiền ứng). Giá trị thanh toán đợt 2: 2.274.000.000 đồng (sau khi đã khấu trừ tiền tạm ứng).

    Thông tin về tiến độ thực hiện gói thầu

    - Sau khi ký hợp đồng, ngày 06/8/2018 Trường Đại học T3 đã có thông báo khởi công số 1427/2018/TĐT-VB đối với gói thầu san lấp mặt bằng công trình Trường Đại học T3.

    - Đến ngày 21/12/2018, Đơn vị thi công đã san lấp hoàn thành phần khối lượng công việc đối với phần diện tích 50.194,5m² (diện tích được xác định dựa theo quyết định giao đất số 1953/QĐ-UBND ngày 14/8/2018).

    - Đối với phần diện tích 8.790,1m² còn lại, vì thời gian chờ giải phóng mặt bằng của Tỉnh An Giang kéo dài, nên đến ngày 28/5/2020 UBND mới có quyết định giao đất số 1209/QĐ-UBND. Do đó, đối với việc triển khai san lấp tại phần diện tích này, Nhà trường đã nhiều lần gia hạn tiến độ thi công với Nhà thầu.

    - Ngày 07/11/2019, T4 có Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ. Dự án An Giang và gói thầu San lấp mặt bằng cũng được nêu trong Kết luận, do đó Trường Đại học T3 dừng triển khai Gói thầu San lấp mặt bằng tại cơ sở T3.

    Công ty TNHH X1 đã nhiều lần gửi văn bản về việc đề nghị thanh quyết toán công trình (Công văn 035/2020/CV/KH-TV ngày 04/8/2020, Công văn 002/2022/CV-TV-KH ngày 10/01/2022, Công văn 085/2022/CV-TV/KTKH ngày 28/10/2022...).

    - Để trả lời Công ty X1, Nhà trường cũng đã phát hành văn bản số 107/TĐT-QLDA ngày 13/01/2022, 3308/TĐT-KHDA ngày 11/11/2022.

    - Hiện gói thầu đang được cơ quan công an tiếp nhận hồ sơ để kiểm tra, hiện vẫn chưa có kết luận của cơ quan chức năng để Nhà trường có cơ sở để tiến hành các công việc tiếp theo.

    Thông tin về việc nghiệm thu và thanh toán:

    - Đối với công tác nghiệm thu và thanh toán: hiện Nhà trường đã tạm ứng và tiến hành thanh toán 02 đợt cho đơn vị thi công với tổng giá trị 12.622.500.000 đồng, hiện trạng hồ sơ lưu tại Trường bao gồm hồ sơ thanh toán của 02 đợt (kèm bản vẽ thanh toán đợt).

    - Đối với thủ tục nghiệm thu quyết toán, hiện Gói thầu san lấp mặt bằng còn thiếu các thủ tục như sau:

    • + Chưa có biên bản nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng giữa Nhà thầu và Chủ đầu tư.
    • + Chưa có bộ hồ sơ quản lý chất lượng, chưa có bản vẽ hoàn công được phê duyệt.
    • + Chưa có hồ sơ Quyết toán được chủ đầu tư phê duyệt.
    • + Ngoài ra đối với công tác cung cấp và đắp bao tải cát khối lượng có phát sinh tăng ngoài hợp đồng tuy nhiên phần khối lượng phát sinh trên vẫn chưa được phê duyệt bởi người có thẩm quyền.

    Ngày 07/11/2019, T4 có Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ trong đó xác định nguồn vốn của T2 thực hiện là vốn nhà nước ngoài ngân sách vì vậy công tác đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản của T2 phải tuân thủ theo Luật Đầu tư công, Luật xây dựng, Luật đấu thầu. Kết luận cũng nêu rõ: “Chủ đầu tư (Trường T3) đã không tuân thủ Luật đầu tư công, Luật đấu thầu dẫn đến vi phạm và sai phạm trong công tác trình thẩm định thiết kế, dự toán; công tác lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng, công tác nghiệm thu, thanh toán... từ đó gây thất thoát trong công tác đầu tư xây dựng”.

    Tại Thông báo kèm theo Quyết định số 1243/QĐ-TLĐ ngày 24/8/2020 và Công văn số 1265/TLĐ ngày 18/11/2020 Tổng Liên đoàn yêu cầu Trường Đại học T3: “rà soát toàn bộ trình tự, thủ tục đầu tư các dự án và thực hiện việc thẩm định dự toán công trình, kiểm tra khối lượng thiết kế, khối lượng hoàn thành và hoàn thiện đầy đủ hồ sơ, tiến hành quyết toán các dự án hoàn thành theo đúng quy định của pháp luật. Yêu cầu chỉ được phép thanh toán với các nhà thầu, nhà cung cấp khi đã đảm bảo đầy đủ điều kiện thanh toán theo đúng quy định của pháp luật”.

    Thông tin về những sai phạm trong gói thầu này theo Kết luận 1690/TL-TLĐ:

    Dự án Trường Đại học T3 và gói thầu san lấp là đối tượng kiểm tra của Đoàn Kiểm tra – T4 từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2019. Ngày 07/11/2019, Đoàn kiểm tra T4 ban hành Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ trong đó xác định các sai phạm đối với dự án này và đối với gói thầu nêu trên, cụ thể như sau:

    Đối với Dự án Trường Đại học T3: Dự án này là một trong các dự án được kiểm tra và được nêu trong Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ. Theo kết luận kiểm tra, các những sai phạm, thiếu sót trong dự án này bao gồm:

    • + Không có báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, không có báo cáo thẩm định chủ trương đầu tư.
    • + Hội đồng trường đã phê duyệt dự án đầu tư tại Quyết định số 09/2016/TĐT-QĐ ngày 30/6/2016, nhưng đang còn thiếu các hồ sơ: Thiết kế cơ sở, Văn bản thẩm định của Cơ quan chuyên môn về xây dựng về TKCS, Báo cáo đánh giá tác động môi trường, văn bản thẩm duyệt về PCCC, thỏa thuận đấu nối hạ tầng kỹ thuật.
    • + Chủ đầu tư (Hiệu trưởng) đã tách hạng mục “San lấp mặt bằng” và lập thành Báo cáo kinh tế - kỹ thuật tại Quyết định số 515/2018/TĐT-QĐ ngày 19/3/2018 với Tổng mức đầu tư là 21,732 tỷ đồng: Không tuân thủ đúng trình tự thủ tục đầu tư xây dựng theo Luật xây dựng số 50/2014/QH13; Không tuân thủ

    Điều 5 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP (Báo cáo kinh tế kỹ thuật được duyệt phải có TMĐT dưới 15 tỷ đồng không bao gồm tiền sử dụng đất).

    • + Dự toán xây dựng/Dự toán gói thầu được phê duyệt chỉ trên cơ sở báo cáo thẩm tra của đơn vị tư vấn thẩm tra, không có ý kiến thẩm định cơ quan chuyên môn thuộc Bộ X2 đối với công trình cấp 1. Như vậy, Chủ đầu tư đã phê duyệt dự toán gói thầu nhưng không tuân thủ Khoản 1, Điều 25 nghị định số 59/2019/NĐ-CP, khoản 10 điều 1 Nghị định số 42/2017/NĐ-CP.
    • + Không lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu tổng thể.
    • + Đối với công tác thiết kế bản vẽ thi công và Dự toán công trình “San lấp mặt bằng”: không thực hiện, lập, thẩm định và phê duyệt nhiệm vụ thiết kế, không có báo cáo thẩm tra của đơn vị tư vấn độc lập, không có văn bản thẩm định thiết kế - dự toán của Cục Q2 (Bộ X2).

    Đối với gói thầu San lấp mặt bằng: Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ đã nêu những sai phạm, thiếu sót như sau:

    • + Không thẩm định, đăng tải Kế hoạch lựa chọn nhà thầu.
    • + Không thẩm định, phê duyệt Hồ sơ mời thầu.
    • + Không thẩm định, đăng tải kết quả lựa chọn nhà thầu.
    • + Không thẩm định dự toán theo quy định.
    • + Hồ sơ dự thầu của 02 Nhà thầu: Công ty TNHH X1, Công ty TNHH M tham gia đấu thầu gói thầu có nội dung phần thuyết minh “Biện pháp thi công tiến độ thi công” có một số khổ, trang giống nhau, tuy nhiên Đơn vị tư vấn đánh giá Hồ sơ dự thầu không tổ chức làm rõ lý do (02 nhà thầu nêu trên có một nhà thầu trúng thầu là Công ty TNHH X1).
    • + Đơn vị Tư vấn giám sát thi công xây dựng không được tổ chức lựa chọn nhà thầu theo luật đấu thầu; chỉ định cho đơn vị trực thuộc T2 – Trung tâm T5 thực hiện nhiệm vụ Tư vấn giám sát.

    Từ các kết luận về sai phạm nêu trên, đối với Gói thầu san lấp mặt bằng, Đoàn kiểm tra T4 yêu cầu:

    • + Thực hiện xuất toán thu hồi số tiền 3.510.603.000 đồng (ba tỷ, năm trăm mười triệu, sáu trăm lẻ ba nghìn đồng).
    • + Thực hiện thẩm định, thẩm tra số liệu trước khi thực hiện quyết toán số tiền 26.006.163.696 đồng (hai mươi sáu tỷ, không trăm lẻ sáu triệu, một trăm sáu mươi ba nghìn, sáu trăm chính mươi sáu đồng).

    Do có những sai sót nghiêm trọng như đã nêu nên việc nghiệm thu công trình và việc thanh toán cho Công ty TNHH X1 không thể thực hiện được.

    Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Trường Tôn Đức T1 xác định lại lời trình bày như trên và trình bày bổ sung lý do chưa thanh toán số tiền còn lại cho Công ty X1 là do công ty này chưa cung cấp hồ sơ thanh quyết toán như: Biên bản

    nghiệm thu, biên bản xác định khối lượng công việc hoàn thành, biên bản xác nhận của Tư vấn giám, biên bản quyết toán của tư vấn giám sát, bản vẽ hoàn công ... nên chưa đủ căn cứ thanh toán và đề nghị xác định thời gian hoàn thành công trình để xác định tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là T4 trình bày:

    T4 đã ban hành các văn bản liên quan đến những dự án đầu tư được nêu trong Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ ngày 07/11/2019 và Hợp đồng xây dựng giữa Công ty Cổ phần X và Trường Đại học T3, cụ thể: Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ ngày 07/11/2019; Công văn số 2057/TLĐ ngày 28/5/2021 về việc phúc đáp văn bản số 1025/BC-TĐT ngày 04/5/2021 của Trường Đại học T3; Công văn số 22567/TLĐ ngày 02/7/2021 về việc phúc đáp văn bản số 1349/BC-TĐT ngày 10/6/2021 của Trường Đại học T3; Công văn số 2257/TLĐ ngày 02/7/2021 về việc phúc đáp văn bản số 193/CV-BK.21 ngày 21/6/2021 của Công ty Cổ phần X; Công văn số 3282/TLĐ-TC ngày 17/12/2021 về việc xử lý tồn đọng tại những dự án được nêu trong Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ ngày 07/11/2019. Tổng L ban hành các văn bản liên quan đến dự án đầu tư của Trường đại học T3 từ năm 2014-2018 và các năm trước, sau có liên quan trên cơ sở Luật đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; không ban hành các văn bản trái quy định hoặc chưa có trong quy định pháp luật Việt Nam hiện hành.

    Tổng L không có ý kiến đối với Hợp đồng kinh tế số: 83/2018-TĐT-TV ký ngày 27/7/2018 giữa Công ty TNHH X1 và Trường Đại học T3 về việc san lấp mặt bằng đối với dự án Trường Đại học T3 tại thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.

Tại Bản án sơ thẩm số 86/2024/KDTM-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024

của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

  1. Đình chỉ yêu cầu của Công ty Cổ phần X về việc yêu cầu Trường Đại học T3 thanh toán tiền phạt vi phạm.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X:

    Buộc Trường Đại học T3 phải trả cho Công ty Cổ phần X ngay khi án có hiệu lực pháp luật số tiền là 298.006.310 đồng.

    Kể từ ngày Công ty Cổ phần X có đơn yêu cầu thi hành án nếu chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Trường Đại học T3 phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH X1:

    Buộc Trường Đại học T3 phải trả cho Công ty TNHH X1 ngay khi án có hiệu lực pháp luật số tiền là 4.275.011.013 đồng.

Kể từ ngày Công ty TNHH X1 có đơn yêu cầu thi hành án nếu chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Trường Đại học T3 phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về chi phí tố tụng: Trường Đại học T3 đã nộp đủ theo Phiếu thu ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

Ngày 24/9/2024, Trường Đại học T3 nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án với lý do:

Không đồng ý với nhận định và quyết định của cấp sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán của T2 theo cam kết trong hợp đồng đã ký. Theo đó, Hợp đồng mà nhà trường đã ký với các đơn vị theo đơn giá cố định nên chỉ khi xác định được chính xác số lượng, khối lượng thi công thực tế thì mới xác định được Giá trị hợp đồng và giá trị còn lại chưa thanh toán. Mặt khác, tính đến thời điểm hiện tại, các nguyên đơn đều chưa cung cấp cho Nhà trường hồ sơ thanh toán hợp lệ theo quy định trong các Hợp đồng đã ký nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa Phúc thẩm:

  • - Đại diện Trường Tôn Đức T1 trình bày kháng cáo: Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm chưa xem xét thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán của T2 theo cam kết trong các hợp đồng đã ký. Mặt khác, tính đến thời điểm hiện tại, các nguyên đơn đều chưa cung cấp cho Nhà trường hồ sơ thanh toán hợp lệ theo quy định trong các Hợp đồng đã ký nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét.
  • - Đại diện Công ty X trình bày: Nguyên đơn không đồng ý kháng cáo của bị đơn, hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã được nghiệm thu hoàn thành, nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ hồ sơ thanh toán nhưng bị đơn trả lại mà không có lý do. Các lý do kháng cáo bị đơn nêu đã được cấp sơ thẩm xem xét đúng quy định do vậy đề nghị bác kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Đại diện Công ty X1 trình bày: nguyên đơn không đồng ý kháng cáo của bị đơn, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các công việc theo hợp đồng, các bên đã ký biên bản khối lượng hoàn thành của đợt 1, đợt 2 và đợt 3 nhưng chưa có biên bản nghiệm thu hoàn thành toàn bộ do phía Nhà Trường không ký xác nhận. Công ty X1 đã hoàn thành nghĩa vụ trong việc gửi hồ sơ thanh toán cho Nhà T2 theo quy định của hợp đồng. Công ty X1 giữ nguyên nội dung đã trình bày tại cấp sơ thẩm và các chứng cứ chứng minh đã nộp. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu việc

tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ lý hồ sơ đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án, tiến hành lập hồ sơ, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, việc cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo đúng quy định tại Điều 41 Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, phiên tòa tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng Dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn, đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên đối với Công ty X. Đồng thời chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn hủy phần quyết phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên đối với Công ty X1 do cấp sơ thẩm chưa tiến hành giám định về khối lượng thi công và xác định đơn giá thanh toán như trong Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ ngày 07/11/2019 của T4 đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, văn bản trình bày ý kiến của người kháng cáo, lời trình bày của nguyên đơn, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án là đúng theo quy định của Pháp luật Tố tụng.
  2. [2] Đơn kháng cáo của Trường Đại học T3 còn trong thời hạn kháng cáo, có hình thức và nội dung đúng quy định nên được chấp nhận.
  3. [3] Phạm vi xét xử phúc thẩm: căn cứ quy định của Điều 293 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo của đương sự.
  4. [4] Trường T3 đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm với lý do cấp sơ thẩm xem xét thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán của T2 theo cam kết trong các hợp đồng đã ký. Mặt khác, tính đến thời điểm hiện tại, các nguyên đơn đều chưa cung cấp cho Nhà trường hồ sơ thanh toán hợp lệ theo quy định trong các Hợp đồng đã ký nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Đây là nội dung cần xem xét.
  5. [5] Về áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp: Tranh chấp giữa các nguyên đơn và bị đơn phát sinh từ các hợp đồng giao thầu xây dựng nên thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng cụ thể gồm: Luật Đấu thầu năm 2013, Luật xây dựng năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng (gọi tắt là Nghị định 37). Bản án cấp sơ thẩm nhận định căn cứ vào Luật Thương mại năm 2005 để xem xét yêu cầu của đương sự trong vụ án là không phù hợp với quan hệ giao dịch phát sinh giữa các bên, cần rút kinh nghiệm.
  6. [6] Về chứng cứ vụ án: Xét các tài liệu trong hồ sơ đã được tòa án cấp sơ thẩm mở phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 01/8/2024, các đương sự trong vụ án không phản đối tài liệu mà tòa án công bố tại phiên họp. Do vậy, các tài liệu được ghi nhận tại biên bản phiên họp ngày 01/8/2024 được xác định là chứng cứ vụ án theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  7. [7] Xét ý kiến của Trường T3 về hiệu lực pháp lý của các hợp đồng số 83/2018-TĐT-TV ký ngày 27/7/2018 và hợp đồng số 270/HĐCC-TC.2020 ký ngày 22/07/2020:
  8. [8] Hiệu lực pháp lý của hợp đồng xây dựng được quy định chi tiết tại Điều 6 Nghi định 37 như sau:

    “1. Hợp đồng xây dựng có hiệu lực pháp lý khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: a) Người tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; b) Đáp ứng các nguyên tắc ký kết hợp đồng quy định tại Điều 4 Nghị định này; c) Hình thức hợp đồng bằng văn bản và được ký kết bởi người đại diện đúng thẩm quyền theo pháp luật của các bên tham gia hợp đồng. Trường hợp một bên tham gia hợp đồng là tổ chức thì bên đó phải ký tên, đóng dấu theo quy định của pháp luật;

    2. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng xây dựng là thời điểm ký kết hợp đồng (đóng dấu nếu có) hoặc thời điểm cụ thể khác do các bên thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng và bên giao thầu đã nhận được bảo đảm thực hiện hợp đồng của bên nhận thầu (đối với hợp đồng có quy định về bảo đảm thực hiện hợp đồng).

    3. Tính pháp lý của hợp đồng xây dựng: a) Hợp đồng xây dựng có hiệu lực là cơ sở pháp lý cao nhất mà bên giao thầu, bên nhận thầu và các bên liên quan có nghĩa vụ thực hiện; b) Hợp đồng xây dựng có hiệu lực là cơ sở pháp lý cao nhất để giải quyết tranh chấp giữa các bên. Các tranh chấp chưa được các bên thỏa thuận trong hợp đồng sẽ được giải quyết trên cơ sở các quy định của pháp luật có liên quan; c) Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan kiểm soát, cấp phát, cho vay vốn, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và các cơ quan có liên quan khác phải căn cứ vào nội dung hợp đồng xây dựng có hiệu lực pháp lý để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định, không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng”

  9. [9] Xét các hợp đồng kinh tế về việc giao nhận thầu xây lắp số 83/2018-TĐT-TV ký ngày 27/7/2018 giữa Trường T3 và Công ty X1 (gọi tắt là Hợp đồng 83); Hợp đồng kinh tế về việc giao nhận thầu xây lắp số 270/HĐCC-TC.2020 ký ngày 22/7/2020 giữa Trường T3 và Công ty X (gọi tắt là Hợp đồng 270) đều do người đại diện theo pháp luật của các bên ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của Điều 138, 139, 141 Luật Xây dựng và Điều 6 Nghị định 37, không vi phạm quy định của Luật Đấu thầu năm 2013 nên phát sinh hiệu lực. Vì vậy, hợp đồng là căn cứ cao nhất để các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
  10. [10] Xét kháng cáo của Trường Tôn Đức T1 với lý do chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán đối với các hợp đồng: Tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm người đại diện của Trường T3 nêu những lý do để chưa thực hiện thanh toán cho Công ty X và Công ty X1 như sau:
  11. [11] Lý do có những vi phạm thiếu sót được nêu trong kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ ngày 07/11/2019 của T4 như: Không có báo cáo đề xuất và thẩm định chủ trương đầu tư; chủ đầu tư phê duyệt dự án nhưng đang còn thiếu các hồ sơ: Thiết kế cơ sở, văn bản thẩm định của Cơ quan chuyên môn về xây dựng về TKCS, báo cáo đánh giá tác động môi trường, văn bản thẩm duyệt về PCCC, thỏa thuận đấu nối hạ tầng kỹ thuật; Dự toán gói thầu không có ý kiến thẩm định của cơ quan chuyên môn thuộc Bộ X2; Không lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu tổng thể. Ngoài ra, khi rà soát thì Nhà T2 còn phát hiện có một số vấn đề phát sinh như khi tiến hành dự án này, người có thẩm quyền của Trường Đại học T3 đã xác định sai nguồn vốn (cho rằng vốn đầu tư là vốn khác) nên đã không áp dụng các thủ tục đầu tư theo đúng pháp luật về đầu tư công, dẫn đến việc Nhà trường không thực hiện đúng các thủ tục đầu tư theo pháp luật. Nhà trường đã đề nghị cơ quan chủ quản là Tổng Liên đoàn hướng dẫn các biện pháp khắc phục nhưng Tổng Liên đoàn chưa có hướng dẫn cụ thể cho T2.
  12. [12] Xét thấy, những sai phạm như Trường Tôn Đức T1 trình bày nằm ngoài phạm vi hợp đồng đã ký với Công ty X và Công ty X1, sai phạm nếu có là thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư dự án – T, cũng là bên giao thầu trong hợp đồng và không phải phát sinh từ lỗi vi phạm của bên nhận thầu trong hợp đồng là Công ty X hay Công ty X1. Do vậy, Trường T3 nêu những lý do này để chưa thực hiện thanh toán cho phía Công ty X và Công ty X1 là không phù hợp với quy định trong hợp đồng, trái với quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định 37 và không có căn cứ pháp luật nên không được chấp nhận.
  13. [13] Lý do Trường Tôn Đức T1 nêu do thiếu hồ sơ, thủ tục nghiệm thu và quyết toán như: Chưa có biên bản nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng giữa Chủ đầu tư và Nhà thầu; Chưa có bộ hồ sơ quản lý chất lượng, bản vẽ hoàn công được phê duyệt; Chưa có hồ sơ quyết toán được Chủ đầu tư phê duyệt. Đồng thời, việc ký nghiệm thu công trình, hồ sơ quyết toán công trình thuộc trách nhiệm của lãnh đạo cũ Trường T3, hiện nay lãnh đạo mới không có trách nhiệm và không thể ký hồ sơ nghiệm thu, thanh toán.
  14. [14] Trình bày tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Công ty X khẳng định Hồ sơ quyết toán theo đúng quy định tại khoản 3.5 Điều 3 Hợp đồng đã được phía Công ty X chuyển giao đầy đủ cho Nhà T2 từ trước nhưng đến ngày 20/01/2022, Trường T3 gửi trả hồ sơ lại cho Công ty X và không ký biên bản nghiệm thu, hồ sơ quyết toán, biên bản thanh lý với lý do lãnh đạo cũ của Nhà T2 bị cách chức.
  15. [15] Xét thấy: Lời trình bày của Công ty X về việc đã gửi đầy đủ hồ sơ thanh toán cho Trường Tôn Đức T1 phù hợp với chứng cứ vụ án được ghi nhận tại biên bản phiên họp công khai chứng cứ ngày 01/8/2024 (bút lục 355 -388) gồm: Biên bản nghiệm thu hoàn thành, biên bản thanh lý hợp đồng, nhật ký thi công, hồ sơ quyết toán. Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện của Trường T3 một mặt cho rằng chưa có hồ sơ quyết toán do chủ đầu tư là Nhà Trường phê duyệt nên không đồng ý thanh toán, một mặt cho rằng việc ký hồ sơ quyết toán là trách nhiệm của lãnh đạo cũ, hiện nay lãnh đạo mới không có trách nhiệm và không thể ký hồ sơ nghiệm thu, thanh toán là không phù hợp với quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, không phù hợp với quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư theo quy định tại khoản 6.1 Điều 6 Hợp đồng đã ký và không phù hợp với nguyên tắc “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực” được quy định tại khoản 4 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần phải áp dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại khoản 5 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”, để chấp nhận các số liệu theo hồ sơ thanh toán do Công ty X cung cấp tại hồ sơ thanh toán đã gửi cho Nhà T2. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp nhận các số liệu về giá trị thanh toán quyết toán theo chứng cứ “hồ sơ thanh toán” do Công ty X đã xuất trình, xác định Trường T3 phát sinh nghĩa vụ thanh toán số tiền 214.756.720 đồng kể từ ngày nhận “hồ sơ thanh toán” là ngày 16/9/2020 là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm Trường Tôn Đức T1 xác nhận không kháng cáo về số liệu tính toán nên Hội đồng xét xử không xét lại, giữ nguyên phần quyết định này của bản án sơ thẩm.
  16. [16] Trình bày tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Công ty X1 xác nhận các bên chỉ mới ký biên bản khối lượng hoàn thành của 3 đợt, chưa có biên bản nghiệm thu hoàn thành toàn bộ do phía Nhà Trường không ký xác nhận. Căn cứ văn bản số 2112-05/CEC-TN ngày 21/12/2018 về “Kết quả thí nghiệm độ chặt cát” thì toàn bộ công việc theo hợp đồng đã Công ty X1 hoàn thành đạt chất lượng đưa vào sử dụng kể từ ngày 21/12/2018 và đã hết thời gian 12 tháng bảo hành theo hợp đồng đã ký. Hồ sơ thanh toán và đề nghị thanh toán đã được Công ty X1 gửi nhiều lần cho Nhà T2 nhưng phía Nhà Trường từ chối phê duyệt hồ sơ thanh toán và thanh toán với lý do dự án thuộc gói thầu có sai phạm theo Kết luận kiểm tra số 1690/KLKT-TLĐ của T4.
  17. [17] Xét thấy: Lời trình bày của đại diện Công ty X1 phù hợp với chứng cứ vụ án được ghi nhận tại biên bản phiên họp công khai chứng cứ ngày 01/8/2024 (bút lục 147-255) gồm: Hồ sơ thanh toán khối lượng đợt 1, hồ sơ
  18. thanh toán khối lượng đợt 2, hồ sơ quản lý chất lượng, văn bản số 2112-05/CEC-TN ngày 21/12/2018 về “Kết quả thí nghiệm độ chặt cát” đạt yêu cầu kỹ thuật; văn bản số 027/2019/CVTV-KH ngày 23/5/2019 (bút lục 96) và văn bản số 002/2022/CV/TV-KH ngày 10/01/2022 (bút lục 101) do Công ty X1 phát hành có nội dung đề nghị Trường Tôn Đức T1 thanh toán giá trị còn lại của hợp đồng; văn bản số 107/TĐT-QLDA ngày 13/01/2022 (bút lục 93) và văn bản số 3308/TĐT-KHDA ngày 11/11/2022 do Trường T3 phát hành (bút lục 97) v/v phản hồi văn bản đề nghị thanh toán của Công ty X1. Thể hiện tại các văn bản của Trường T3 phản hồi về đề nghị thanh toán của Công ty X1 cũng như tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm, người đại diện Nhà T2 đều xác nhận đã nhận được yêu cầu thanh toán từ Công ty X1 và công trình cũng đã đưa vào sử dụng, tuy nhiên thực hiện theo Kết luận kiểm tra của T4 thì Nhà Trường tuyệt đối không tiếp tục triển khai thanh toán, nghiệm thu do đó Nhà Trường chưa thể tiến hành các thủ tục tiếp theo. Nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, thì người đại diện của trường một mặt cho rằng do chưa có hồ sơ quyết toán do chủ đầu tư là Nhà Trường phê duyệt nên chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán, một mặt cho rằng việc ký hồ sơ quyết toán là trách nhiệm của lãnh đạo cũ, hiện nay lãnh đạo mới không có trách nhiệm và không thể ký hồ sơ nghiệm thu, thanh toán là không phù hợp với quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, không phù hợp với quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư theo quy định tại khoản 6.1 Điều 6 Hợp đồng đã ký và không phù hợp với nguyên tắc “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực” được quy định tại khoản 4 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần phải áp dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại khoản 5 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”, để không chấp nhận những lý do mà phía Trường T3 nêu ra, đồng thời chấp nhận lời trình bày và các số liệu theo hồ sơ thanh toán do Công ty X1 xuất trình để xác định Trường T3 có nghĩa vụ thanh toán số tiền là 2.401.500.000 đồng (gồm khoản tiền còn lại đợt cuối cùng chưa thanh toán và số tiền bảo hành công trình là 5% giá trị hợp đồng). Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp nhận các số liệu về giá trị thanh toán các đợt 1, 2, 3 theo chứng cứ do Công ty X1 đã xuất trình, xác định Trường Tôn Đức T1 chưa thanh toán số tiền là 2.401.500.000 đồng là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm Trường Tôn Đức T1 xác nhận không kháng cáo về số liệu tính toán nên Hội đồng xét xử không xét lại, giữ nguyên phần quyết định này của bản án sơ thẩm.
  19. [18] Về thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán của Trường T3 đối với Công ty X1 thì theo quy định tại khoản 7.2 Điều 7 Hợp đồng là “trong hạn 10 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ thanh toán hợp lệ”. Tuy nhiên, do Trường Tôn Đức T1 từ chối phối hợp với Công ty X1 để thực hiện đầy đủ hồ sơ nghiệm thu quyết toán theo quy định tại khoản 7.3 Điều 7 Hợp đồng, do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định kể từ thời điểm Công ty X1 có văn bản xác nhận về “Kết quả thí nghiệm độ chặt cát” đạt yêu cầu kỹ thuật là ngày 21/12/2018 thì Công ty X1 đã hoàn thành nghĩa vụ trong việc lập hồ sơ quyết toán theo quy định tại
  20. khoản 7.3 Điều 7 Hợp đồng. Do vậy, nghĩa vụ thanh toán của Trường T3 là trong hạn 10 ngày kể từ ngày 21/12/2018. Hết ngày 31/12/2018, Trường Tôn Đức T1 chưa hoàn thành việc thanh toán cho Công ty X1 nên xác định Trường T3 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Công ty X1 kể từ 01/01/2019.
  21. [19] Về xét yêu cầu phạt hợp đồng:
  22. [20] Công ty X không yêu cầu phạt hợp đồng đối với trường Tôn Đức T1 nên cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
  23. [21] Công ty X1 có yêu cầu phạt hợp đồng theo quy định tại khoản 13.2 Điều 13 Hợp đồng 83 như sau: “Bên A vi phạm thời hạn thanh toán theo cam kết tại khoản 7.2 Điều 7 của Hợp đồng này thì Bên A phải chịu phạt 10.000.000 đồng/01 ngày chậm trễ”
  24. [22] Xét thấy: Phạt hợp đồng được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng như sau: “Điều 146. Thưởng, phạt hợp đồng xây dựng, bồi thường thiệt hại do vi phạm và giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng: 1. Thưởng, phạt hợp đồng xây dựng phải được các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng; 2. Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm. Ngoài mức phạt theo thỏa thuận, bên vi phạm hợp đồng còn phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, bên thứ ba (nếu có) theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan khác.(...)"
  25. [23] Công ty X1 yêu cầu Trường T3 phải chịu phạt do vi phạm hợp đồng với số tiền 192.120.000 đồng tương đương 8% của số tiền 2.401.500.000 đồng phải thanh toán là phù hợp quy định tại khoản 13.2 Điều 13 Hợp đồng và quy định của khoản 1, khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng. Bản án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu này là có căn cứ. Do vậy, cấp phúc thẩm giữ nguyên phần quyết định này của bản án sơ thẩm.
  26. [24] Về xét yêu cầu tiền lãi trên khoản tiền chậm thanh toán:
  27. [25] Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng xây dựng được quy định tại khoản 2 Điều 43 Nghị định 37 như sau: “2. Trường hợp, bên giao thầu thanh toán không đúng thời hạn và không đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng thì phải bồi thường cho bên nhận thầu theo lãi suất quá hạn do ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố tương ứng với các thời kỳ chậm thanh toán. Lãi chậm thanh toán được tính từ ngày đầu tiên chậm thanh toán cho đến khi bên giao thầu đã thanh toán đầy đủ cho bên nhận thầu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”
  28. [26] Công ty X yêu cầu Trường T3 phải chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là phù hợp quy định của khoản 2 Điều 43 Nghi định 37. Mức lãi suất do Công ty X yêu cầu áp dụng là 9,9%/năm là thấp hơn mức lãi suất công bố của Ngân hàng TMCP Q3 nơi Công ty X mở tài khoản thanh toán (văn bản số 01-BK/NCBCT ngày 09/6/2025 Ngân hàng cung cấp Biểu lãi suất tham chiếu có mức lãi suất cho vay của khoản vay trung hạn tại thời điểm tháng 9/2024 là 9%/năm, tương đương lãi suất quá hạn là 13,5%/năm). Bản án cấp sơ
  29. thẩm đã căn cứ vào yêu cầu của đương sự và chứng cứ vụ án để xác định các thời điểm vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Trường T3, đồng thời chấp nhận chấp nhận yêu cầu của Công ty X buộc Trường Tôn Đức T1 trả tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán tính đến ngày xét xử là 83.249.590 đồng là có cơ sở. Do vậy, cấp phúc thẩm giữ nguyên phần quyết định này của bản án sơ thẩm.
  30. [27] Công ty X1 yêu cầu Trường T3 phải chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là phù hợp quy định của khoản 2 Điều 43 Nghi định 37. Mức lãi suất do Công ty X1 yêu cầu áp dụng là 1,237%/tháng (14,8%/năm) là thấp hơn mức lãi suất công bố của Ngân hàng TMCP Q4 – Chi nhánh N nơi Công ty X1 mở tài khoản thanh toán (văn bản số 30/TB-MB.NHCM ngày 05/6/2025 Ngân hàng cung cấp mức lãi suất nợ quá hạn của khoản vay trung hạn tại thời điểm tháng 9/2024 là 16,425%/năm) và thời điểm bắt đầu tính lãi quá hạn theo yêu cầu của Công ty X1 kể từ ngày 21/12/2019 là có lợi hơn cho Nhà T2 so với thời điểm vi phạm thanh toán của Nhà T2 được xác định tại đoạn [18]. Bản án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào yêu cầu của Công ty X1 và chứng cứ vụ án để chấp nhận chấp nhận yêu cầu của Công ty X1 buộc Trường Tôn Đức T1 trả tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán tính đến ngày xét xử là 1.681.391.013 đồng là có cơ sở. Do vậy, cấp phúc thẩm giữ nguyên phần quyết định này của bản án sơ thẩm.
  31. [28] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy toàn bộ kháng cáo của Trường Đại học T3 đối với bản án sơ thẩm là không có cơ sở nên không được chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
  32. [29] Về án phí: Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 148, Điều 271, Điều 273, Điều 296, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của Trường Đại học T3. Giữ nguyên bản án sơ thẩm:

  1. Đình chỉ yêu cầu của Công ty Cổ phần X về việc yêu cầu Trường Đại học T3 thanh toán tiền phạt vi phạm.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X:

    Buộc Trường Đại học T3 phải trả cho Công ty Cổ phần X ngay khi án có hiệu lực pháp luật số tiền là 298.006.310 đồng.

    Kể từ ngày Công ty Cổ phần X có đơn yêu cầu thi hành án nếu chậm

thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Trường Đại học T3 phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH X1:

    Buộc Trường Đại học T3 phải trả cho Công ty TNHH X1 ngay khi án có hiệu lực pháp luật số tiền là 4.275.011.013 đồng.

    Kể từ ngày Công ty TNHH X1 có đơn yêu cầu thi hành án nếu chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Trường Đại học T3 phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về chi phí tố tụng: Trường Đại học T3 đã nộp đủ theo Phiếu thu ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7.
  3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

    Trường Đại học T3 phải chịu tiền án phí sơ thẩm đối với yêu cầu của Công ty Cổ phần X được chấp nhận là 14.900.316 đồng.

    Trường Đại học T3 phải chịu tiền án phí sơ thẩm đối với yêu cầu của Công ty TNHH X1 được chấp nhận là 112.275.011 đồng.

    H2 lại cho Công ty Cổ phần X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 44.797.567 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0014853 ngày 11/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

    H2 lại cho Công ty TNHH X1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 51.392.106 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0015449 ngày 07/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Trường Đại học T3 phải chịu án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0019851 ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Cục THADS TP.Hồ Chí Minh
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 181/2025/KDTM-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công

  • Số bản án: 181/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger