|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 181/2025/HS-ST Ngày: 23/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Phương Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Dứa
Bà Nguyễn Anh Thư
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Hoàng Trung K; sinh năm 1994; Nơi thường trú: Khu B, phường T (phường V cũ), thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ở: số A, ngách D, ngõ C Cầu B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Trung D (sinh năm 1967) và bà: Phạm Thị H (sinh năm 1972); Có vợ là Phạm Thị Quỳnh M (sinh năm 1991); D1 chỉ bản số 91, lập ngày 24/01/2025 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam: từ ngày 24/01/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: B, L, phường K, quận T, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Quỳnh M, sinh năm 1991; Nơi cư trú: ngõ C, Cầu B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Trung K là nhân viên bảo hiểm ô tô của Công ty B - Chi nhánh T2. Tháng 8/2024 thông qua việc bán bảo hiểm xe ô tô nên K quen biết với chị Nguyễn Thị Kiều T (sinh năm 1996, trú tại: B, L, phường K, quận T, Hà Nội). Đầu tháng 01/2025 do cần tiền tiêu xài nên K đã chủ động nhắn tin qua ứng dụng Zalo lừa dối chị T về việc K có thể đổi tiền mới không mất phí nhằm chiếm đoạt tiền của chị T. Tin tưởng lời K nên chị T đã đề nghị K đổi giúp số tiền 428.000.000 đồng để lấy tiền mới chưa sử dụng để chị dùng trong dịp Tết Nguyên đán năm 2025. Ngày 05/01/2025, tại Phòng 605 chung cư A, khu đô thị Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội, chị T đã hai lần sử dụng ứng dụng InternetBanking chuyển số tiền 428.000.000 đồng từ số tài khoản 9155556666 mở tại Ngân hàng TMCP N mang tên Nguyễn Thị Kiều T đến số tài khoản 5555555573 mở tại Ngân hàng TMCP K1 mang tên Hoàng Trung K (chị T chuyển 408.000.000 đồng vào lúc 14 giờ 21 phút; lần thứ hai chị T chuyển 20.000.000 đồng vào lúc 14 giờ 28 phút). Sau khi nhận được tiền K hẹn chị T khi nào có tiền mới sẽ mang đến đưa cho chị T. Để chị T tin tưởng nên ngày 09/01/2025, K liên hệ với anh Nguyễn Đăng T1 (sinh năm 1991; trú tại: số F, ngõ B P, phường B, quận L, Hà Nội) đặt vấn đề đổi số tiền 110.000.000 đồng sang tiền mới và thỏa thuận phí đổi tiền K phải trả cho anh T1 là 3.650.000 đồng. Tổng cộng K phải chuyển cho anh T1 số tiền 113.650.000 đồng. Anh T1 đồng ý đổi tiền và thuê một người đàn ông làm nghề xe ôm mang đến đưa cho K 110.000.000 đồng tiền mới, khi nhận được tiền mới K trả cho người xe ôm 7.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 106.650.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng TMCP Á số tài khoản 817766 mang tên Le Thi Viet L để thanh toán số tiền đã đổi. Cùng ngày 09/01/2025, K đã mang số tiền 108.000.000 đồng đưa cho chị T và nói “em có trước từng này, đến gần Tết em đưa nốt” thì chị T đồng ý. Số tiền 320.000.000 đồng còn lại của chị T đã đưa nhờ K đổi tiền mới K không thực hiện việc đổi tiền mới để trả cho chị T mà tiêu xài cá nhân hết. Khi chị T hỏi K về số tiền 320.000.000 đồng thì K hứa hẹn “sắp có rồi”. Do hỏi nhiều lần và thấy K tìm các lý do để thoái thác trốn tránh không trả tiền nên khoảng 20 giờ ngày 23/01/2025, chị T hẹn K đến nhà chị T để hoàn trả số tiền 320.000.000 đồng nhưng K không trả nên chị T yêu cầu K đến Công an phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội để cùng chị trình báo sự việc.
Cơ quan công an đã tạm giữ của Hoàng Trung K: 01 điện thoại Samsung Galaxy S24 Ultra, màu đen, số Imei 1: 353437176898317, Imei 2: 354536296898310.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Trung K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Đối với anh Nguyễn Đăng T1 không biết việc Hoàng Trung K lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên cơ quan điều tra không xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị Kiều T yêu cầu Hoàng Trung K phải bồi thường cho chị số tiền 320.000.000 đồng đã chiếm đoạt.
Đối với chiếc điện thoại S Galaxy S24 Ultra, màu đen, số Imei 1: 353437176898317, Imei 2: 354536296898310 thu giữ của Hoàng Trung K, quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của K, sử dụng vào việc phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 138/CT-VKS-HM ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Hoàng Trung Kiên về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Ngày 11/6/2025 chị Phạm Thị Quỳnh M là vợ của bị cáo Hoàng Trung K đã bồi thường cho bị hại là chị Nguyễn Thị Kiều T số tiền 320.000.000 đồng thay cho K. Chị Nguyễn Thị Kiều T không yêu cầu Hoàng Trung K bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho K.
* Tại phiên tòa: bị cáo Hoàng Trung K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên nội dung truy tố. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo; tự nguyện tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự và gia đình bị cáo có người thân có công với cách mạng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Trung K với mức hình phạt từ 6 năm tù đến 7 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công: 01 điện thoại Samsung Galaxy S24 Ultra, màu đen, số Imeil: 353437176898317, Imei2: 354536296898310; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Xét thấy, bị hại là chị Nguyễn Thị Kiều T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị Quỳnh M có đơn xin xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân, Hoàng Trung K mặc dù không có chức năng, nhiệm vụ và không có khả năng trong việc đổi tiền mới, nhưng đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối dưới hình thức cam kết sẽ đổi được tiền mới không mất phí để chị Nguyễn Thị Kiều T tin tưởng là thật, nên ngày 05/01/2025 tại Phòng 605 chung cư A, khu đô thị Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội, chị T đã sử dụng ứng dụng InternetBanking chuyển tổng số tiền 428.000.000 đồng từ số tài khoản 9155556666 mở tại Ngân hàng TMCP N mang tên Nguyễn Thị Kiều T đến số tài khoản 5555555573 mở tại Ngân hàng TMCP K1 mang tên Hoàng Trung K. Sau khi nhận được số tiền trên, K đã không thực hiện như cam kết. K mới đổi tiền mới và trả cho chị T số tiền 108.000.000 đồng. Số tiền 320.000.000 đồng còn lại K đã chiếm đoạt của chị T và sử dụng để chi tiêu cá nhân hết.
Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất lòng tin trong nhân dân, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt được là 320.000.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bằng thủ đoạn đưa ra các thông tin gian dối có thể đổi được tiền mới không mất phí để bị hại chuyển tiền cho K, nhưng sau đó không đổi tiền mới và cũng không trả lại tiền mà chiếm đoạt chi tiêu cá nhân hết. Hành vi của bị cáo Hoàng Trung K đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Hoàng Trung K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Bị cáo Hoàng Trung K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Bị cáo Hoàng Trung K có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã có ý thức để đổi tiền và trả lại một phần tiền cho bị hại; bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có người thân có công với cách mạng nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo và thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
- Ngày 11/6/2025 chị Phạm Thị Quỳnh M là vợ của bị cáo Hoàng Trung K đã bồi thường cho bị hại là chị Nguyễn Thị Kiều T số tiền 320.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Kiều T đã được nhận lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Chị Phạm Thị Quỳnh M đã bồi thường thay cho bị cáo Hoàng Trung K, chị M không yêu cầu bị cáo K trả lại cho chị số tiền mà chị đã bồi thường thay cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S24 Ultra, màu đen, số Imei 1: 353437176898317, Imei 2: 354536296898310 thu giữ của Hoàng Trung K. Xét K sử dụng điện thoại để liên lạc trong quá trình phạm tội, nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
[9] Đối với anh Nguyễn Đăng T1 là người Hoàng Trung K đã nhờ đổi tiền, quá trình điều tra xác định anh T1 không biết việc K lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ các điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Trung K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trung K 6 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2025.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí: Bị cáo Hoàng Trung K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Trung K.
- Bị hại là chị Nguyễn Thị Kiều T đã được nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Chị Phạm Thị Quỳnh M đã bồi thường thay cho bị cáo Hoàng Trung K, chị M không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường thay, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S24 Ultra, màu đen, số Imei 1: 353437176898317, Imei 2: 354536296898310.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội theo Phiếu nhập kho số NK2025-0159 ngày 25 tháng 4 năm 2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Phương Minh |
Bản án số 181/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 181/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Trung K
